Báo hay cho người bận rộn

1975 đốt sách và 40 năm sau: đấu giá sách VNCH

0

1975 đốt sách và 40 năm sau: đấu giá sách VNCH

….Một trong những việc làm cấp thiết của Bắc Việt khi chiếm được miền
Nam VNCH là niêm phong, tịch thu sách tại các thư viện. Những tác phẩm của
nhà in, nhà xuất bản và nhà sách lớn tại Sài Gòn như Khai Trí, Sống Mới, Độc
Lập, Đồng Nai, Nam Cường, Trí Đăng… đều bị niêm phong và cấm lưu
hành……

đốt sách VNCH

Một cảnh đốt sách thật tang thương tháng 05/1975 ở Sài Gòn

chợ sách
Hình: Chợ trời sách miền nam trên đường Đặng Thị Nhu Q1 năm 1979

Có khoảng 180 chục triệu cuốn sách đủ loại ở miền Nam nằm trong vùng định
chế sách bị tiêu hủy, vẫn có một số sách không nhỏ trên ‘thoát nạn‘ do sự cất
giấu của những người có lòng với văn học và do cả óc trục lợi của một số
người. Dù cho có trục lợi đi nữa thì cũng vẫn là một điều đáng làm vì gián tiếp
giúp cho sinh mệnh chữ nghĩa miền Nam vẫn có cơ hội sống lại.

Chính trong cái khung cảnh sinh hoạt sách báo miền Nam bị vây khốn khó
khăn như thế đã làm nảy ra một nghề mới: Nghề bán sách dạo, sách bán ở vỉa
hè. Nghề này từ nay thay thế công việc của ông Khai Trí cũng như cho khoảng
2.500 nhà sách trên toàn miền Nam đã phải tự động đóng cửa sau 1975. Nó
tiêu biểu cho nghề buôn bán chui dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Xã hội tạo ra
một lớp người làm ăn bất hợp pháp. Cái gì cũng thành chui cả. Sách chui, gạo
chui, thuốc tây chui, đi chui và ngay cả việc đi tu cũng trở thành tu chui. Sách
càng bị cấm, càng nhiều người tìm đọc.

Có lẽ người có lòng nhất với sách vở miền Nam là ông Khai Trí. Từ người bán
sách lẻ lề đường, ông xây dựng nên cơ nghiệp là nhà sách Khai Trí, số 60- 62
đường Lê Lợi. Tôi đã đứng bên kia đường Lê Lợi sau 1975 để chứng kiến
cảnh hôi sách, đốt sách của nhà Khai Trí. Cảnh tượng ấy còn như in vào đầu
tôi. Sách của nhà Khai Trí vứt tung tóe, bừa bãi trên mặt đường phố Lê Lợi
trong nỗi bất lực của nhiểu người miền Nam cách đây 40 năm.
Tôi không biết lúc bấy giờ ông Khai Trí đứng ở đâu… Nhưng cái cảnh ấy nó
bộc lộ hết cái bản chất bạo tàn của những kẻ chiến thắng.

Khi cơ sở nhà sách Khai Trí bị tịch thâu. Theo nhà văn Nhật Tiến, một lần
nữa, ông Khai Trí lại ra ngồi lề đường, trải một tấm nhựa ni lông bán vài
cuốn sách thiếu nhi còn sót lại. Đây lại là một hoạt cảnh đau lòng và ngược
đời bầy ra trước mắt. Từ một chủ nhân bề thế, uy tín mà trong kho chứa hàng
triệu cuốn sách, nay ông trở thành người bán sách dạo đầu đường.
Cảnh tượng này giúp ta nhớ lại như hoạt cảnh đấu tố trong Cải cách ruộng
đất.
(Trích: “Hiện trạng văn học miền Nam sau 1975 ở miền Nam…” của Nguyễn Văn Lục.)
https://www.facebook.com/ photo.php?fbid= 975038645853312&set=a.
115868755103643.13719. 100000415584390&type=1

 

SAIGON 1979 – Chợ sách cũ đường Đặng Thị Nhu

Sau năm 1975, Đặng Thị Nhu là một con đường sách nổi
tiếng mà dân mê sách, các nhà văn, nhà văn hóa Hà Nội, Sài
Gòn không thể không biết.

Chỉ là một con đường nhỏ dài chừng 200m, nối liền hai
đường Ký Con và Calmette là những sạp chứa đầy sách, đối
diện nhau qua một lối đi bộ…

Cũng nhờ chợ sách này mà nhiều tác phẩm xuất
bản trước 1975 của miền Nam được lưu truyền , gìn giữ . Có
những gia đình cất giấu nhiều sách quý , nhưng sau đó đứt
ruột chia tay với sách vì sinh kế . Mua bán sách cũ cũng giúp
bao gia đình thoát được cái đói . Cảnh đó chỉ có những người
không may mắn kẹt lại SG sau 75 mới thấu hiểu !

Góp nhặt buồn vui thời điêu linh: Đốt Sách !!!

Nơi nào người ta đốt sách thì họ sẽ kết thúc bằng việc đốt sinh mạng con
người”.

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa,
thừa tướng Lý Tư đã đề nghị dẹp bỏ tự do ngôn luận để thống nhất chính kiến
và tư tưởng. Lý Tư chỉ trích giới trí thức dùng ‘sự dối trá’ qua sách vở để tạo
phản trong quần chúng.

Chủ trương Đốt sách, Chôn nho (Phần thư, Khanh nho) của Tần Thủy Hoàng
được thực hiện từ năm 213 trước Công nguyên. Qua đó, tất cả những kinh
điển từ thời Chư tử Bách gia (trừ sách Pháp gia, trường phái của Lý Tư) đều
bị đốt sạch.

Lý Tư còn đề nghị đốt tất cả thi, thư, sách vở, trừ những quyển
được viết vào thời nhà Tần. Sách trong lĩnh vực triết lý và thi ca, trừ những
sách của Bác sĩ (cố vấn nhà vua) đều bị đốt. Những nho sinh dùng sử sách để
chỉ trích chính quyền đều bị hành hình. Những ai dựa vào chế độ cũ để phê
phán chế độ mới sẽ bị xử tội chém ngang lưng.

Lý Tư tấu: “Thần xin rằng sử sách không phải do Tần ghi chép đều bị đem đốt.
Ngoại trừ quan chức không phải là tiến sĩ thì trong thiên hạ không ai được phép
cất giữ Thi, Thư, sách của Bách gia, tất cả đều phải đem đốt. Nếu dám dùng
những lời ngụ ngôn trong Thi, Thư thì chém bêu đầu ở chợ. Lấy xưa mà chê
nay thì giết cả họ. Quan lại thấy mà không tố cáo sẽ bị coi là đồng phạm. Nay
lệnh trong ba mươi ngày mà không đem đốt, sẽ bị xăm mặt và bắt đi xây dựng
trường thành”.

Năm 212 TCN, Tần Thuỷ Hoàng phát hiện ở Hàm Dương có một số nho sinh
đã từng bình phẩm về mình liền hạ lệnh bắt để thẩm vấn. Các nho sinh không
chịu nổi tra khảo, lại khai ra thêm một loạt người khác. Tần Thuỷ Hoàng hạ
lệnh đem tất cả trên 460 nho sinh đó chôn sống ngoài thành Hàm Dương. Đốt
sách, chôn Nho là hành vi được người đời sau coi là tàn bạo nhất của Tần
Thủy Hoàng. Đó cũng là tội danh hàng ngàn năm sau vẫn còn ghi nhớ. Không
riêng gì người Hán mà cả nhân loại lên án.

Trong thâm tâm, Tần Thủy Hoàng cũng như Lý Tư đều biết rất rõ, lệnh đốt
sách không thể nào xóa sạch những tư tưởng trong đầu óc dân chúng, những
cuốn sách ‘khó đốt’ nhất là nằm trong tinh thần con người. Như vậy, việc đốt
sách thực tế chỉ là một thủ đoạn chứ không tạo được tác dụng triệt để trong
việc xóa sạch vết tích văn hóa-chính trị như mong muốn.

Việt Nam vốn tự hào là quốc gia có hơn 4.000 năm văn hiến, nhưng sách vở
của người xưa để lại thì rất ít. Nguyên nhân chính là vì quân nhà Minh bên
Tàu đã ra lệnh hủy hết sách vở ngay trong những ngày đầu đô hộ nước ta để
dễ bề cai trị.

Sau này, cuộc Cách mạng Văn hóa tại Trung Hoa từ năm 1953 đến 1966

cũng đã gây nhiều ảnh hưởng đến miền Bắc. Do đó, xét về mặt lịch
sử, Việt Nam đã trải qua rất nhiều thời kỳ sách vở bị tiêu hủy cho phù hợp với
những thay đổi qua các giai đoạn chính trị.

Trên thực tế, tại miền Bắc, ngay sau khi tiếp quản Hà Nội, việc kiểm duyệt
sách báo, bài viết trước khi đem phổ biến ra công chúng đã được thực hiện
ngay từ năm 1954. Đối với các loại sách báo đã in ra từ trước 1954 dưới thời
Pháp thuộc cũng đã bị đốt. Thế cho nên, việc đốt sách tại miền Nam năm 1975
chỉ là rập khuôn của chính sách cũ năm 1954.

Hồi ký của Một người Hà Nội ghi lại sự kiện đốt sách năm 1954 khi Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa tiếp quản miền Bắc: “Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy
xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một
số ‘lớp Chín hậu phương’, năm sau sẽ sáp nhập thành ‘hệ mười năm’. Số học
sinh ‘lớp Chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức Hiệu đoàn’, nhận
‘chỉ thị của Thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’.
Họ truy lùng… đốt sách!
Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn ‘kiểm tra’, lục lọi, từ quyển vở
chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang ‘tập trung’ tại Thư viện phố
Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm ‘phấn khởi’, lời hô
khẩu hiệu ‘quyết tâm’, và ‘phát biểu của bí thư Thành đoàn’: Tiểu thuyết của
Tự Lực Văn Đoàn là… ‘cực kỳ phản động!’. Vào lớp học với những ‘phê bình,
kiểm thảo… cảnh giác, lập trường”.

Tại miền Nam, trong thời điêu linh ngay sau ngày 30/4/1975, việc đốt sách
được thể hiện qua chiến dịch Bài trừ Văn hóa Đồi trụy-Phản động. Tự bản
thân khẩu hiệu trong chiến dịch đã nêu rõ 2 mục đích: (1) về chính trị, bài trừ
các luồng tư tưởng phản động chống đối chế độ và (2) về văn hóa, xóa bỏ hình
thức được coi là ‘đồi trụy theo hình thức tư bản’.

Một trong những việc làm cấp thiết của chính quyền mới khi miền Nam sụp
đổ là niêm phong, tịch thu sách tại các thư viện. Những tác phẩm của nhà in,
nhà xuất bản và nhà sách lớn tại Sài Gòn như Khai Trí, Sống Mới, Độc Lập,
Đồng Nai, Nam Cường, Trí Đăng… đều bị niêm phong và cấm lưu hành.

Xuống đường Bài trừ Văn hóa Đồi trụy & Phản động trong thời điêu linh
Đội ngũ những người cầm bút miền Nam phải nói là rất đông và bao gồm
nhiều lãnh vực. Về triết học phương Tây có Lê Tôn Nghiêm, Trần Văn Toàn,
Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Trần Bích Lan… Triết Đông có Nguyễn
Đăng Thục, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Khắc Kham,
Nghiêm Toản, Kim Định, Nhất Hạnh…

Phần biên khảo có Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Lê Ngọc Trụ, Lê Văn Đức, Lê
Văn Lý, Trương Văn Chình, Đào Văn Tập, Phạm Thế Ngũ, Vương Hồng Sển,
Thanh Lãng, Nguyễn Ngu Í, Nguyễn Văn Xuân, Lê Tuyên, Đoàn Thêm,
Hoàng Văn Chí, Nguyễn Bạt Tụy, Phan Khoang, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Thế
Anh, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Văn Sâm…

Về thi ca có Nguyên Sa, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng,
Tô Thùy Yên, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Viên Linh, Hoàng Trúc Ly, Nhã Ca,
Trần Dạ Từ, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Du Tử Lê…. Phê bình văn
học có Tam Ích, Cao Huy Khanh, Lê Huy Oanh, Đỗ Long Vân, Đặng Tiến,
Uyên Thao, Huỳnh Phan Anh…

Đông đảo nhất là văn chương với Võ Phiến, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Doãn
Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Bình Nguyên Lộc, Mặc
Thu, Mặc Đỗ, Thanh Nam, Nhật Tiến, Nguyễn Thị Vinh, Phan Du, Đỗ Tấn,
Nguyễn Mạnh Côn, Sơn Nam, Võ Hồng, Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị
Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Minh Đức Hoài Trinh, Nguyễn Đình Toàn, Chu
Tử, Viên Linh, Duyên Anh, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Vũ Hạnh, Y Uyên,
Cung Tích Biền, Duy Lam, Thế Uyên, Lê Tất Điều, Hoàng Hải Thủy, Văn
Quang, Nguyễn Thụy Long, Phan Lạc Tiếp, Thế Nguyên, Thế Phong, Diễm
Châu, Thảo Trường, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Ngô Thế
Vinh…

Toàn bộ sách ấn hành tại miền Nam của những tác giả nêu trên (còn một số
người nữa mà người viết bài này không thể nhớ hết) đều bị ‘đánh đồng’ là tàn
dư Mỹ-Ngụy, văn hóa nô dịch, phản động và đồi trụy.

Các cấp chính quyền từ phường, xã, quận, huyện, thành phố ra chỉ thị tập trung tất cả các loại sách vở, từ tiểu thuyết, biên khảo cho đến sách giáo khoa để ‘hỏa thiêu’.

Không có con số thống kê chính thức nhưng người ta ước đoán có đến vài
trăm ngàn sách báo và băng, đĩa nhạc bị thiêu đốt trong chiến dịch truy quét
văn hóa phẩm đồi trụy-phản động tại Sài Gòn. Sách báo trên kệ sách trong
nhà của tư nhân bị các thanh niên đeo băng đỏ lôi ra hỏa thiêu không thương
tiếc. Tại các cửa hàng kinh doanh, sách báo bị thu gom để thiêu hủy, coi như
đốt cháy cả cơ nghiệp lẫn con người những cá nhân có liên quan. Tất nhiên,
những người có sách bị đốt cũng có phản ứng quyết liệt. Trong hồi ký Viết
trên gác bút, nhà văn Nguyễn Thụy Long ghi lại một diễn biến trong vụ đốt
sách năm 1975:

Một cửa hiệu chuyên cho thuê truyện tại đường Huỳnh Quang Tiên bên cạnh
nhà thờ Ba Chuông tại Phú Nhuận phát nổ khi đoàn thu gom sách mang băng
đỏ xâm nhâp tiệm. Ông chủ nhà sách mời tất cả vào nhà. Rồi một trái lựu đạn
nổ. Chuyện xảy ra không ai ngờ. Đương nhiên là có đổ máu, có kẻ mạng vong.
Những chú nhỏ miệng còn hôi sữa, những cô bé chưa ráo máu đầu là nạn nhân
vô tội. Trên cánh tay còn đeo tấm băng đỏ, quả thật súng đạn vô tình! Cả chủ
tiệm cũng mạng vong”.

Nguyễn Thụy Long là cháu ruột nhà văn Nguyễn Bá Học nổi tiếng với câu
“Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi
e sông”. Những tiểu thuyết của Nguyễn Thụy Long như Loan mắt nhung, Kinh
nước đen cũng gian truân không kém cuộc đời của tác giả, chúng được xếp
vào loại ‘văn hóa nô dịch’ nên phải lên giàn hỏa.

Năm 1975, Duyên Anh (Vũ Mộng Long) bị chính quyền mới coi như ‘một
trong mười nhà văn nguy hiểm nhất của miền Nam’ với hơn 50 tác phẩm văn
chương, trong đó nổi bật có Luật hè phố, Dzũng Đakao, Điệu ru nước mắt, Vẻ
buồn tỉnh lỵ, Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy. Chế độ mới cấm ông viết lách
và bắt giam không xét xử suốt sáu năm qua các nhà tù và trại tập trung.
Vượt biển sang Pháp, Duyên Anh tiếp tục viết và cho xuất bản gần hai mươi
tác phẩm, trong đó có Un Russe à Saigon La colline de Fanta do nhà
Belfond xuất bản. Báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Pháp viết nhiều,
nói nhiều về ông. Sử gia Piere Chaunu, giáo sư Đại học Sorbonne, coi Duyên
Anh là ‘nhà thơ lớn, vinh quang của quốc gia (Pháp)’.

Đầu năm 1997, Duyên Anh từ trần tại Pháp. Dù muốn dù không, nhiều người
ngậm ngùi nghĩ đến tác giả của truyện ngắn đọc đến mủi lòng, có tựa đề
Con sáo của em tôi đăng trên Chỉ Đạo năm 1956. Những truyện ngắn,
truyện dài thật trong sáng của tuổi ô mai như Dưới dàn hoa thiên lý hoặc du
côn du đãng như Dzũng Dakao… Tất cả lần lượt được hóa kiếp bằng ngọn
lửa.

Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn
hóa – tư tưởng xuất bản sau năm 1975 có đoạn viết:

“… Một số người như Duyên Anh, Nhã Ca… chấp nhận chủ nghĩa chống Cộng
với một thái độ hoàn toàn tự nguyện. Nhưng nếu xét gốc rễ thái độ thù địch của
họ đối với cách mạng, thái độ đó có nguyên nhân ở sự tác động của chủ nghĩa
thực dân mới. Họ vừa là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Nhưng nếu xét
đến cùng họ cũng vừa là một nạn nhân của đường lối xâm lược tinh vi, xảo
quyệt của Mỹ.

Dù xét dưới tác động nào, hoạt động chống Cộng bằng văn nghệ của đội ngũ
những cây bút này cũng là những hoạt động có ý thức. Ý thức đó biểu hiệu
trước hết trong thái độ chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới, chống lại một
cách điên cuồng chủ nghĩa Cộng Sản…

Họ cho văn nghệ là sự chọn lựa một phạm vi hoạt động, một phương tiện để đạt
mục đích và tự nguyện dùng ngòi bút của mình phục vụ cho chế độ. Thái độ tự
nguyện của họ cũng đã có nhiều người tự nói ra. Vũ Hoàng Chương tự ví mình
là ‘viên gạch để xây bức tường thành ngăn sóng đỏ’, Doãn Quốc Sĩ coi mình
như một ‘viên kim cương, răng Cộng Sản không sao nhá được’…”

Trong vụ án được mệnh danh là Những tên Biệt kích Cầm bút năm 1986, một
số nhà văn ra tòa tại Sài Gòn với tội ‘gián điệp’. Chính quyền mới muốn dựng
một vụ án điển hình để đe dọa các nhà văn miền Nam nhưng bất thành vì áp
lực từ bên ngoài. Theo kịch bản được dàn dựng, họ muốn xử Doãn Quốc Sĩ
mức án tử hình hay chung thân, Hoàng Hải Thủy (từ chung thân đến 20
năm), Dương Hùng Cường (18 năm), Lý Thụy Ý (15 năm), Nguyễn Thị Nhạn
(12 năm), Hiếu Chân Nguyễn Hoạt (10 năm) và Khuất Duy Trác cùng Trần
Ngọc Tự (8 năm).

Tính ra Hoàng Hải Thủy (còn có bút danh Công tử Hà Đông, Con trai bà Cả
Đọi…) ngồi tù ngót nghét 10 năm sau đó tìm đường vượt biên sang Mỹ. Tác
phẩm của ông gồm đủ thể loại: tiểu thuyết đăng nhiều kỳ trên các báo, truyện
phóng tác, bình luận, phiếm luận… Bây giờ tuy đã già nhưng vẫn còn viết rất
hăng ở Rừng Phong (Virginia) trên blog http://hoanghaithuy. wordpress. com/

Những nhà văn như Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long
thường sinh sống bằng nghề viết báo bên cạnh việc viết văn. Trong lãnh vực
báo chí, Sài Gòn vẫn được coi là trung tâm của báo chí với những nhật báo
lớn đã xuất hiện từ lâu như tờ Thần Chung (sau đổi thành Tiếng Chuông
của Đinh Văn Khai), Sài Gòn Mới của bà Bút Trà… Khi người Bắc di cư vào
Nam có thêm tờ Tự Do, tiếp đến là Ngôn Luận. Đó là những nhật báo lớn có
ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Hoạt động báo chí ở Saigòn càng ngày
càng phát triển, theo Vũ Bằng, đến tháng 12/1963, ở Sài Gòn có tới 44 tờ báo
ra hàng ngày.

Một đặc điểm của văn học miền Nam là việc hình thành các nhóm văn học.
Nhóm Quan Điểm do Vũ Khắc Khoan thành lập với Nghiêm Xuân Hồng, Mặc
Đỗ. Quan Điểm (cũng là tên nhà xuất bản do Mặc Đỗ điều hành) được người
đương thời gọi là nhóm ‘trí thức tiểu tư sản’, bởi tác phẩm của họ, trong
những ngày đầu chia cắt đất nước sau hiệp định Genève, thường có những
nhân vật mang nỗi hoang mang, trăn trở của người trí thức tiểu tư sản trước
ngã ba đường: theo bên này, bên kia, hay đứng ngoài thời cuộc?

Theo Trần Thanh Hiệp, nhóm Sáng Tạo là một nhóm sinh viên hoạt động
trong Tổng hội sinh viên Hà Nội, trước 1954, gồm bốn người: Nguyễn Sĩ Tế,
Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền và Trần Thanh Hiệp. Di cư vào Sài Gòn, họ
tiếp tục hoạt động văn nghệ với tuần báo Dân Chủ (do Trần Thanh Hiệp và
Thanh Tâm Tuyền phụ trách), rồi tờ Người Việt (tiền thân của tờ Sáng Tạo).
Sau đó Mai Thảo gia nhập nhóm với truyện ngắn Đêm giã từ Hà Nội, rồi đến
Lữ Hồ, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Quách Thoại.

Trên tạp chí Sáng Tạo, ngoài những tên tuổi kể trên người ta còn thấy Nguyên
Sa, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu, họa sĩ
Thái Tuấn. Sáng Tạo số đầu ra tháng 10/1956 và tạm ngưng ở số 27 (tháng
12/58). Sáng Tạo bộ mới chỉ đến số 7 (tháng 3/62).

Nhóm Bách Khoa ra đời tháng 1/1957 và sống đến ngày Sài Gòn sụp đổ. Bách
Khoa là nguyệt san văn học nghệ thuật có tuổi thọ dài nhất với 426 số. Bách
Khoa do Huỳnh Văn Lang điều hành trong những năm đầu. Đến 1963, khi
Ngô Đình Diệm đổ, Huỳnh Văn Lang bị bắt, bị tù, nên giao hẳn cho Lê Ngộ
Châu.

Bách Khoa quy tụ được nhiều tầng lớp nhà văn khác nhau thuộc mọi lứa tuổi.
Những cây bút nổi tiếng cộng tác thường xuyên với Bách Khoa là Nguyễn
Hiến Lê, Võ Phiến, Nguyễn Ngu Ý, Vũ Hạnh, Võ Hồng, Đoàn Thêm, Nguyễn
Văn Xuân, Bình Nguyên Lộc…. Theo Võ Phiến, trong thời kỳ cực thịnh, tức là
khoảng 1959-1963, mỗi số Bách Khoa bán được 4500 đến 5000 bản.

Đắt khách nhất là tạp chí Văn của Nguyễn Đình Vượng, ra đời ngày 1/1964 và
sống đến 1975. Văn do Trần Phong Giao trông nom trong 10 năm đầu, đến
1974 chuyển lại cho Mai Thảo. Văn cũng quy tụ được nhiều nhà văn ở nhiều
lứa tuổi thuộc nhiều khuynh hướng, từ Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm
Tuyền đến Thế Uyên, Nguyễn Mạnh Côn, Bình Nguyên Lộc… Văn đặc biệt
quan tâm đến việc dịch thuật và giới thiệu văn học nước ngoài. Trần Phong
Giao cũng là một dịch giả nổi tiếng, còn có thêm Trần Thiện Đạo, sống ở
Paris, dịch và viết về những phong trào văn học đang thịnh hành ở Pháp.

Tạp chí Văn hoá Ngày nay của Nhất Linh ra đời ngày 17/6/1958, được 11 số
thì đình bản. Nguyễn Thị Vinh tiếp tục chủ trương tiếp các tờ Tân Phong,
Đông Phương, theo chiều hướng Văn hoá Ngày nay.

Tạp chí Đại học, tờ báo của Viện đại học Huế do Linh mục Cao Văn Luận,
viện trưởng, làm chủ nhiệm, ra đời năm 1958 ở Huế, và sống đến năm 1964.
Trên Đại học, xuất hiện những bài đầu tiên của Nguyễn Văn Trung, người sau
này có ảnh hưởng lớn đến thế hệ sinh viên và trí thức.
Về các nhóm, Viên Linh trong cuốn Chiêu niệm văn chương, cho biết: “Các
nhà văn xuất hiện thường xuyên, trên nhật báo, qua các nhà xuất bản, nhất là
trên các báo định kỳ, và thành từng nhóm. Lý lịch văn chương và sắc thái địa
phương của họ rất tương đồng, tùy theo nhóm tạp chí trên đó họ góp mặt”.
Đa số các nhà văn miền Nam qui tụ trên các tờ tuần báo Đời Mới, Nhân
Loại, và nhật báo như Tiếng Chuông, Sàigon Mới (Hồ Hữu Tường, Bình
Nguyên Lộc, Sơn Nam, Kiên Giang, Lưu Nghi, Thẩm Thệ Hà, Trang Thế
Hy…).

Các nhà văn gốc miền Trung xuất hiện trên tờ Văn Nghệ Mới, Bách
Khoa (Võ Thu Tịnh, Nguyễn Văn Xuân, Võ Phiến, Đỗ Tấn, Vũ Hạnh, Bùi
Giáng, Võ Hồng, Nguyễn Thị Hoàng); các nhà văn ‘di cư’ có mặt trên các
tờ Đất Đứng, Sáng Tạo, và trên các nhật báo như Tự Do, Ngôn Luận (Đỗ Thúc
Vịnh, Nguyễn Hoạt, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn
Sỹ Tế, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền) hay Văn Nghệ (Lý Hoàng Phong,
Dương Nghiễm Mậu, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn), Hiện Đại(Nguyên Sa,
Trần Dạ Từ, Nhã Ca). Tờ Chỉ Đạo, Phụng Sự, Tiền Tuyến quy tụ các nhà văn
quân đội hay quân nhân đồng hoá như Nguyễn Mạnh Côn, Mặc Thu, Thanh
Nam, Phan Nhật Nam, Thảo Trường…

Khuynh hướng Phật giáo có các tờ Tư Tưởng, Vạn Hạnh với Tuệ Sỹ, Bùi
Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Hữu Hiệu; khuynh hướng Thiên chúa giáo
La mã có Hành Trình, Đối Diện với Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan,
Diễm Châu, Thế Nguyên. Mặc dù khi đó đảng Cộng Sản bị đặt ra ngoài vòng
pháp luật, song các nhà văn theo Cộng Sản như Nguyễn Ngọc Lương, Minh
Quân, Vũ Hạnh vẫn tạo được diễn đàn riêng trên Tin Văn hay hiện diện trong
tổ chức Văn Bút dưới thời linh mục Thanh Lãng làm chủ tịch.

Những tờ như Văn, Phổ Thông, Văn Học, qui tụ các nhà văn không có lập
trường chính trị rõ rệt, họ thuần túy làm văn thơ cổ điển như Đông Hồ, Mộng
Tuyết, Nguyễn Vỹ, Bùi Khánh Đản, hay văn nghệ thời đại, sinh hoạt thành
phố như Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng. Những tờ về
nghệ thuật hay về phụ nữ quy tụ các nhà văn như Tùng Long, An Khê, Lê
Xuyên, Nguyễn Thụy Long, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang…

Về giới cầm bút sau 1963, Nguyễn Văn Trung viết: “Giới cầm bút sau 1963, họ
là những người hồi 1954 trên dưới mười tuổi theo gia đình vào Nam hoặc sinh
trưởng và lớn lên ở miền Nam hầu hết có tú tài và tốt nghiệp đại học. Số lượng
giới trẻ cầm bút này càng ngày càng đông đảo theo đà thành lập các đại học ở
các tỉnh Huế, Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Long Xuyên, Tây Ninh và
các đại học tư ở Sàigòn như Vạn Hạnh, Minh Đức…”

Những nhà văn trẻ đã trưởng thành về tuổi đời và nhận thức sau 1963, trong
hoàn cảnh nhiều xáo trộn chính trị-xã hội, chiến tranh mở rộng với sự can
thiệp ồ ạt của quân đội nước ngoài. Thời cuộc và chính trị ảnh hưởng trực
tiếp đến họ vì bị động viên hay quân dịch… Do đó, họ có lối nhìn thời cuộc đất
nước và nghệ thuật văn học khác hẳn với lối nhìn của những đàn anh viết từ
trước 1963… Thơ văn giới trẻ viết sau 1963 thường theo một xu hướng chung,
phản ánh vũ trụ Kafka, như tên đặt cho một số đặc biệt về thơ văn của Hành
Trình, hoặc phản ánh thân phận những nhân vật Việt Nam tương tự những
nhân vật trong tiểu thuyết Giờ thứ hai mươi lăm của Gheorghiu.

Nhờ hệ thống báo chí phát triển, quần chúng độc giả bao gồm nhiều thành
phần trong khi các nhà văn nổi tiếng như Mai Thảo, Bình Nguyên Lộc, Túy
Hồng, Nhã Ca, Duyên Anh, Chu Tử, Thanh Nam… đều sống bằng ngòi bút
một cách dư giả. Họ là những người viết chuyên nghiệp, thậm chí nhiều nhà
văn có nhà xuất bản riêng.

Nguyễn Hiến Lê trong 30 năm biên khảo và dịch thuật đã viết được 100 quyển
sách trước 1975, và 20 cuốn thời gian sau đó. Nguyễn Văn Trung, ngoài lượng
sách về triết học, văn học, in trước 1975, trong những công trình sau 1975, có
bộ Lục Châu Học, nghiên cứu về văn học miền Lục tỉnh Nam Kỳ. Những nhà
văn như Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo… cũng đều có những
số lượng tiểu thuyết trên dưới 30 cuốn. Về sáng tác, số lượng tỷ lệ nghịch với
chất lượng và đó là cái giá mà nhà văn phải trả.

Về đối tượng độc giả, có thể nói, lớp trẻ ‘bụi đời’ thích đọc Duyên Anh, lớp
sống vũ bão thích Chu Tử. Phụ nữ thích Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ,
Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca vì họ phản ảnh đời sống người phụ nữ tân tiến.
Lớp trí thức thích cách đặt vấn đề của Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm
Xuân Hồng. Lớp trẻ lãng mạn giao thời thích đọc Mai Thảo. Tuy nhiên,
Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu là những tác giả đòi hỏi người đọc
một trình độ trí thức cao. Quần chúng bình dân thích Lê Xuyên, Tùng
Long… Học sinh trường Tây đọc văn chương ngoại quốc qua tiếng Pháp,
tiếng Anh. Học sinh trường Việt đọc các tác phẩm ngoại quốc qua bản dịch
hoặc phóng tác.

Bộ sách Văn Học Việt Nam Nơi Miền Đất Mới của Nguyễn Q. Thắng xuất bản
sau năm 1975 có đề cập tới 53 ‘văn gia’ của VNCH, mỗi người được tác giả
gắn cho một nhãn hiệu. Chẳng hạn, Nguyễn Văn Trung là ‘nhà văn nhập
cuộc’, Cao Xuân Hạo ‘nhà lập thuyết ngữ học’, Nguyễn Ngọc Lan ‘nhà văn
Công giáo, nhà báo dấn thân’, Thanh Việt Thanh (?) ‘nhà văn cần cù’, Thế
Uyên ‘nhà văn nhập cuộc’, Viên Linh ‘hoàng đế’, ‘nhà độc tài’ văn học’ (!?),
Hồ Trường An ‘dược sĩ (?), nhà văn’…

Những nhà văn nữ như Nguyễn Thị Thụy Vũ được khoác cho cái nhãn ‘nhà
văn nữ giầu tình dục’, Túy Hồng ‘nữ văn sĩ giầu tính nhục cảm’, Nguyễn Thị
Hoàng ‘nhà văn trẻ của tình lụy’, Thu Vân (?) ‘nhà văn dùng tính dục để giải
quyết vấn đề’…

Một điều không ai có thể phủ nhận là miền Nam trước khi có chiến dịch đốt
sách năm 1975 rất phong phú về sách báo, từ sáng tác đến dịch thuật, từ chính
luận đến phiếm luận. Điều chắc chắn là trong số các tác phẩm đó ‘có vàng’
nhưng cũng ‘có thau’. Người đọc đủ sáng suốt để lọc ra những gì với họ là
tinh túy để giữ lại, hoặc dấu nếu cần.

Khi người Bắc di cư vào Nam năm 1954, họ rất ngạc nhiên khi thấy những
người đạp xe xích lô đến buổi trưa, tìm chỗ mát nghỉ ngơi. Họ ngồi gác chân
đọc nhật trình. Người bình dân miền Nam có truyền thống đọc sách báo mà ở
ngoài Bắc không có. Ngay từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 miền Nam đã là
vùng đất của tiểu thuyết và báo chí trong khi ngoài Bắc, sách vở, báo chí phần
lớn chỉ dành cho người có học.

Miền Nam vào những thập niên 60-70 lại có hiện tượng giao thoa giữa hai nền
văn hóa Pháp và Mỹ với sự du nhập ồ ạt của các loại sách Livre de poche của
Pháp và các loại sách soft cover của Mỹ. Giá sách nói chung tương đối rẻ vì
mục đích chính là phổ biến văn hóa, thương mại chỉ là phụ.

Người đọc có thể tìm loại sách IC (Information & Culture) dưới hình thức
sách bỏ túi (Livre de Poche) của Pháp bày bán tại các nhà sách Sài Gòn trước
1975 một cách dễ dàng. Nếu có chút vốn liếng về tiếng Pháp, người ta có thể
tìm đọc những tác phẩm cổ điển của Platon, Homère hoặc các tác phẩm
đương đại của Albert Camus, Jean-Paul Sartre, Saint Exupéry, Francoise
Sagan…

Quân đội Mỹ ào ạt đổ bộ vào miền Nam, nhưng văn hoá Mỹ có vai trò áp đảo
hay không? Theo giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, “Thời chiến tranh lạnh, với thế
lưỡng cực trên thế giới, miền Nam nằm trong vùng ảnh hưởng Mỹ, và như vậy
là có thêm tác nhân mới. Tuy nhiên, văn hoá Mỹ, theo gót đoàn quân viễn
chinh, cũng chưa thể gọi là có ảnh hưởng gì sâu đậm. Ở lối sống, ở những giai
tầng thấp thì có thể gọi là có ảnh hưởng một cách xô bồ, nhưng ở thượng tầng
thì chưa”.

Hoa Kỳ thành lập cơ quan thông tin-văn hóa JUSPAO (Joint United States
Public Affairs Office) và tạp chí Thế giới Tự do được phát hành miễn phí cho
mục đích tuyên truyền. Đây là báo ảnh, được in ấn bằng phương tiện tối tân
nên rất hấp dẫn người đọc.

Cũng có một nguồn cung cấp sách tiếng Anh hoàn toàn miễn phí nhưng rất ít
người biết để đem về kệ sách riêng của mình. Đó là sách của Asia Foundation
(Cơ quan Viện trợ Văn hóa Á Châu) một tổ chức phi mậu dịch, tặng không
cho người đọc là quân nhân, công chức với số lượng hạn chế mỗi lần 5 quyển
cách nhau 3 tháng.

Tôi là ‘khách hàng’ thường xuyên của Asia Foundation. Sách của Asia
Foundation là loại sách viện trợ thuộc đủ mọi lĩnh vực, trên sách có đóng dấu
bằng 2 thứ tiếng “Not for sale” “Xin đừng bán”. Nếu gặp may, bạn có thể
gặp những sách thuộc loại ‘quý, hiếm’.

Tôi còn giữ được một bộ 2 cuốn World Masterpieces, dày khoảng 3.000 trang in
lại những kiệt tác văn chương của thế giới qua các thời kỳ như Iliad của
Homer, Don Quixote của Miguel de Cervantes, Hamlet của William
Shakespeare, Thoughts (Les Pensées) của Blaise Pascal, Faust của Von
Goethe, The Death of Iván Ilyich của Leo Tolstoy, Theseus (Thésée) của Andre
Gide, Remembrance of Things Past của Marcel Proust, No Exit của Jean-Paul
Sartre…

Một số sách xuất bản ở miền Nam trước 1975 nay đã được in lại, và càng ngày
càng có một nhu cầu muốn tìm hiểu và phục hồi lại nền văn học đã mai một
này. Hơn nữa, tên tuổi và tác phẩm của những nhà văn nổi tiếng ở miền Nam
đã xuất hiện khá nhiều trên Internet. Sau 1975, Từ điển văn học bộ mới cũng
được phép in một số mục từ về Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Dương Nghiễm
Mậu, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng…

Chỉ tiếc một điều là một số sách báo xưa đã biến mất sau đại họa 1975 và chỉ
còn lưu giữ rất hạn chế tại các thư viện tại hải ngoại dưới hình thức
microfilm. Rồi người ta cũng quên đi ‘bữa tiệc BBQ’ nhưng vấn đề là những
thế hệ sau này sẽ mất hẳn sợi dây liên lạc bằng sách báo với quá khứ.

Kết thúc bài viết này, tác giả xin mượn ý thơ của Vũ Đình Liên than thở cho
thân phận ông đồ trước cảnh tàn lụi của nền nho học:

Năm nay đào lại nở
Không thấy sách báo xưa
Ngọn lửa nào năm cũ
Lạc về đâu bây giờ?

(Trích Hồi Ức Một Đời Người, Chương 6 – Thời điêu linh
LẠI CHUYỆN ĐỐT SÁCH NGÀY XƯA !
14/09/2015

Nguyễn Văn Tuấn

***
Văn học miền Nam trước 1975 qua vài con số

Hôm nay tôi đọc hết một bài dài về nền văn học miền Nam sau 1975. Bài viết
có vài thông tin có thể xem là có ích. Nói là “sau 1975” nhưng bài viết cũng
cung cấp vài con số hay hay về nền văn học miền Nam trước 1975. Sau đây là
vài con số mà tôi thu thập được từ bài viết.

Theo thống kê của ông Trần Trọng Đăng Đàn thì miền Nam thời đó có 2.721
tác giả có tác phẩm được xuất bản. Con số này kể cả nhà văn, nhà báo, biên
khảo, giáo sư, trí thức, v.v. Nhưng con số đó không kể những người viết báo
nghiệp dư hay có thơ thỉnh thoảng đăng trên báo mà không xuất bản thành
sách.

Tính trung bình, số đầu sách được xuất bản hàng năm là khoảng 10,000 cuốn
(số liệu của Bộ Thông tin VNCH). Mỗi cuốn được in tối thiểu là 3000 bản,
nhưng có cuốn được in đến 10 ngàn bản. Trong số sách xuất bản, nếu tính từ
1962 đến 1975, có 208 bộ sách chưởng, gồm 850 quyển. Nhưng số phát hành
sách chưởng lên đến 5 triệu bản (tương đương với số sách giáo khoa trong
cùng thời gian).

xuống đường đốt sách

Một buổi tuần hành bài trừ “văn hoá đồi truỵ Mỹ Nguỵ”

Tác phẩm văn học xuất bản ở miền Nam từng là những đối tượng phê bình
nặng nề của giới phê bình văn học miền Bắc (trước 1975). Điều tuyệt vời là họ
làm thống kê về những phê bình đó. Theo Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức, trong
thời gian đó, miền Bắc đã sản xuất được 286 bài phê bình văn học miền Nam.
Những bài này đăng trên tạp chí Học Tập, Văn học và Văn nghệ

Nội Thành Huế st

Có thể bạn sẽ thích

Bình Luận

Your email address will not be published.