Báo hay cho người bận rộn

Ảnh hưởng của sự chia tách Tiệp Khắc

0

Ảnh hưởng của sự chia tách Tiệp Khắc

Một phần tư thế kỷ trước, khi sự chú ý của quốc tế tập trung vào cuộc xung đột đẫm máu ở vùng Balkan, một quốc gia châu Âu đa dân tộc khác đã lặng lẽ chia tách làm hai. “Cuộc phân ly nhung” (Velvet Divorce), cái tên được đặt cho sự chia tách Tiệp Khắc vào ngày 01 tháng 01 năm 1993, đã khơi dậy ký ức về cuộc Cách mạng Nhung không đổ máu đã lật đổ những người cộng sản của đất nước này vào năm 1989. Nó ngầm ý rằng sự chia tách này đã diễn ra một cách hòa bình thân thiện. Trên thực tế, chỉ có một số ít người dân ở cả hai bên – chỉ 37% người Slovak và 36% người Séc – ủng hộ sự chia tách này. Vaclav Havel, một hình tượng cách mạng, người đã từng là tổng thống Tiệp Khắc vào thời điểm đó, đã nản lòng đến mức ông thà từ chức còn hơn là phải chủ trì cho cuộc chia tách này. Trong khi chủ nghĩa dân tộc sơ khai kích động cuộc xung đột ở Nam Tư, các vấn đề kinh tế và khả năng lãnh đạo kém cỏi mới là những nguyên nhân chính của sự phân ly ở Tiệp Khắc – một động lực đã báo trước về cuộc đấu tranh giành độc lập ở Catalonia đương đại, một vùng thuộc Tây Ban Nha.

Hai dân tộc đã từng trải qua sự chia ly trước đó. Ngay cả khi cả hai dân tộc đều là một phần của đế chế Habsburg cũ, người Séc đã bị cai trị bởi Áo và người Slovak thì bị Hungary quản lý. Tiệp Khắc được tách ra khỏi đế quốc Áo-Hung sau Thế chiến I. Trong Thế chiến II, Slovakia tuyên bố độc lập và hình thành một nhà nước bù nhìn đồng minh với Đức quốc xã trong khi người Séc chịu đựng sự chiếm đóng trực tiếp của người Đức.

Vào năm 1948, sau khi cộng sản tiếp quản, các vùng đất của Séc, trước đây từng là trung tâm công nghiệp của Áo-Hungary, được hưởng lợi từ sự chú trọng của chế độ này đối với ngành công nghiệp nặng. Nhưng các chính sách tái phân phối thu nhập của nhà nước lại tìm cách thúc đẩy sự phát triển ở các vùng lãnh thổ nông nghiệp và miền núi Slovakia. Đến năm 1992, GDP bình quân đầu người của Slovakia đã được cải thiện bằng 3/4 so với Séc. Tuy nhiên, sự thù ghét đã được tạo ra ở phía Séc bởi những khoản trợ cấp này, và ở phía người Slovakia là bởi ý niệm rằng số phận của họ nằm trong tay các quan chức ở Prague. Điều này đã bị các nhà chính trị đầy tham vọng lợi dụng. Trong khi ông Havel vẫn là gương mặt toàn cầu của Tiệp Khắc hậu cộng sản, một hệ thống chính trị liên bang đã mở đường cho sự trỗi dậy của một cặp đôi nhà quản lý trong nước đầy quyền lực: Vaclav Klaus, thủ tướng Séc và Vladimir Meciar, thủ tướng Slovakia.

Klaus, một nhà tư tưởng ủng hộ thị trường tự do mong muốn đặt quốc gia của mình trong đội tiên phong của chủ nghĩa kinh tế tự do đang càn quét châu Âu, muốn tập trung quyền lực ở Prague. Trong khi đó, ông Meciar, một nhà lãnh đạo đảng theo chủ nghĩa bảo trợ truyền thống, đã tìm kiếm sự tự chủ cho Slovakia và sử dụng quyền tiếp cận của mình đối với các tài sản quốc gia để duy trì cơ sở quyền lực chính trị của mình. Vào giữa năm 1992, sự phân chia đã lộ rõ và hai người đã đồng ý chia tách vào tháng Bảy. Sau đó, Klaus theo đuổi các mục tiêu tư nhân hóa nhanh chóng, biến Cộng hòa Séc trở thành một ngôi sao kinh tế ở Trung Âu, nhưng cũng tạo ra sự oán giận của công chúng bởi những người được hưởng đặc quyền trong chế độ cộng sản cũ và các công ty đa quốc gia nước ngoài được hưởng lợi một cách quá mức từ quá trình này. Trong khi đó, Meciar thắt chặt quyền lực của mình và cai trị như một nhà lãnh đạo nửa độc tài, làm chậm tiến trình gia nhập Liên minh châu Âu của đất nước và nhìn chung đã khiến Slovakia trở thành một người ngoài cuộc của khu vực, cho đến khi ông bị bãi nhiệm một cách dân chủ vào năm 1998.

Hiện giờ cả Cộng hòa Séc và Slovakia đều là thành viên của NATO và EU. Việc cùng là thành viên của EU đã khiến cho các trạm kiểm soát hải quan được xây dựng vội vàng vào năm 1993 trở nên khá gây tranh cãi. Ngoại trừ sự than phiền thi thoảng diễn ra sau một màn trình diễn yếu kém trong một giải đấu thể thao nào đó, và hiện tượng văn hóa pop khác lạ, không mấy ai thảo luận về việc tái thống nhất nữa. Kể từ khi chia tách, Slovakia đã tiếp tục thu hẹp khoảng cách giàu nghèo bằng cách mở rộng cơ sở sản xuất của riêng mình, sử dụng ưu đãi thuế để mang về những khoản đầu tư nước ngoài lớn, và trong quá trình đó, trở thành nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới tính theo đầu người. GDP bình quân đầu người của Slovakia hiện nay bằng 90% của Séc. Từng được coi là quốc gia anh em nghèo kém hơn của Séc, Slovakia có thể trở thành một quốc gia nâng đỡ tinh thần cho những người miền Nam Italia, người Walloon, và những dân tộc khác đương bị dèm pha hay đang mắc kẹt trong cuộc đấu tranh vùng miền của châu Âu hiện đại.

Nguồn: The impact of Czechoslovakia’s split, The Economist, 04/01/2018

Biên dịch: Lê Thị Hồng Loan | Biên tập: Lê Hồng Hiệp _ Nghiên Cứu Quốc Tế

___________

Đọc thêm:

28/11/1989: Tiệp Khắc bãi bỏ chế độ chính trị độc đảng

Havel 1989

Vào ngày này năm 1989, trong bối cảnh phải đối mặt với sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở các nước láng giềng và ngày càng nhiều cuộc biểu tình nổ ra trên các đường phố, các quan chức của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc tuyên bố họ sẽ từ bỏ sự độc quyền của mình đối với quyền lực chính trị. Các cuộc bầu cử được tổ chức trong tháng 12 năm đó đã thành lập nên chính phủ phi cộng sản đầu tiên của đất nước này sau hơn 40 năm.

Tiệp Khắc, đứng đầu là chủ tịch Gustáv Husák theo đường lối cộng sản cứng rắn, đã cố gắng làm ngơ trước những dấu hiệu cho thấy cơn gió chính trị đang chuyển mình ở Đông Âu. Mikhail Gorbachev đang nắm quyền ở Liên Xô, kêu gọi tiến hành các cuộc cải cách chính trị và kinh tế. Các quan chức cộng sản thuộc thế hệ cũ, như Tổng Bí thư Đông Đức Erich Honecker, đang dần đánh mất quyền lực. Husák và những người ủng hộ ông cố gắng duy trì cơ sở quyền lực bằng cách đưa những gương mặt mới vào nội các, nhưng những thay đổi mang tính hình thức này đã không thể dập tắt được đòi hỏi tái cơ cấu chính trị đáng kể của người dân.

Tháng 11 năm 1989, hàng chục ngàn người biểu tình đã tràn xuống đường phố của thủ đô Praha và các thành phố khác để kêu gọi lật đổ chế độ Husák. Bất chấp việc cảnh sát đáp trả bằng bạo lực tàn bạo, điều này chỉ củng cố thêm quyết tâm của những người biểu tình. Ngày 28 tháng 11, không còn hy vọng nhận được sự hỗ trợ từ Liên Xô, Husák tuyên bố Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đồng ý bãi bỏ chế độ chính trị độc đảng của đất nước. Husák từ chức ít ngày sau đó. Một chính phủ liên minh được thành lập, với phe cộng sản chiếm thiểu số.

Ngày 29 tháng 12, Václav Havel được bầu làm tổng thống, trở thành nhà lãnh đạo phi cộng sản đầu tiên của Tiệp Khắc sau hơn 40 năm. Sự thành công của “Cách mạng Nhung” ở Tiệp Khắc (được gọi như vậy là do bản chất tương đối ôn hòa của nó) là một dấu hiệu nữa cho thấy số phận sắp tàn lụi của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu. Việc Liên Xô kiềm chế hành động (không như năm 1968, khi đoàn xe tăng Liên Xô đã nghiền nát những người biểu tình ở Praha trong sự kiện “Mùa xuân Praha”) chứng tỏ sức mạnh của người khổng lồ cộng sản đang suy yếu, cũng như những cam kết cải cách kinh tế và chính trị của Gorbachev ở khối phía Đông.

Vào ngày này năm 1989, trong bối cảnh phải đối mặt với sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở các nước láng giềng và ngày càng nhiều cuộc biểu tình nổ ra trên các đường phố, các quan chức của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc tuyên bố họ sẽ từ bỏ sự độc quyền của mình đối với quyền lực chính trị. Các cuộc bầu cử được tổ chức trong tháng 12 năm đó đã thành lập nên chính phủ phi cộng sản đầu tiên của đất nước này sau hơn 40 năm.

Tiệp Khắc, đứng đầu là chủ tịch Gustáv Husák theo đường lối cộng sản cứng rắn, đã cố gắng làm ngơ trước những dấu hiệu cho thấy cơn gió chính trị đang chuyển mình ở Đông Âu. Mikhail Gorbachev đang nắm quyền ở Liên Xô, kêu gọi tiến hành các cuộc cải cách chính trị và kinh tế. Các quan chức cộng sản thuộc thế hệ cũ, như Tổng Bí thư Đông Đức Erich Honecker, đang dần đánh mất quyền lực. Husák và những người ủng hộ ông cố gắng duy trì cơ sở quyền lực bằng cách đưa những gương mặt mới vào nội các, nhưng những thay đổi mang tính hình thức này đã không thể dập tắt được đòi hỏi tái cơ cấu chính trị đáng kể của người dân.

Tháng 11 năm 1989, hàng chục ngàn người biểu tình đã tràn xuống đường phố của thủ đô Praha và các thành phố khác để kêu gọi lật đổ chế độ Husák. Bất chấp việc cảnh sát đáp trả bằng bạo lực tàn bạo, điều này chỉ củng cố thêm quyết tâm của những người biểu tình. Ngày 28 tháng 11, không còn hy vọng nhận được sự hỗ trợ từ Liên Xô, Husák tuyên bố Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đồng ý bãi bỏ chế độ chính trị độc đảng của đất nước. Husák từ chức ít ngày sau đó. Một chính phủ liên minh được thành lập, với phe cộng sản chiếm thiểu số.

Ngày 29 tháng 12, Václav Havel được bầu làm tổng thống, trở thành nhà lãnh đạo phi cộng sản đầu tiên của Tiệp Khắc sau hơn 40 năm. Sự thành công của “Cách mạng Nhung” ở Tiệp Khắc (được gọi như vậy là do bản chất tương đối ôn hòa của nó) là một dấu hiệu nữa cho thấy số phận sắp tàn lụi của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu. Việc Liên Xô kiềm chế hành động (không như năm 1968, khi đoàn xe tăng Liên Xô đã nghiền nát những người biểu tình ở Praha trong sự kiện “Mùa xuân Praha”) chứng tỏ sức mạnh của người khổng lồ cộng sản đang suy yếu, cũng như những cam kết cải cách kinh tế và chính trị của Gorbachev ở khối phía Đông.

Nguồn: “Czechoslovakian Communist Party gives up monopoly on political power,” History.com (truy cập ngày 27/11/2015).

Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng _ Nghiên Cứu Quốc Tế

 

Có thể bạn sẽ thích

Bình Luận

Your email address will not be published.