Báo hay cho người bận rộn

Câu chuyện người tỵ nạn: ‘Sao tôi để mẹ nằm lại nơi đảo vắng?’

0

Đảo Kuku, bài 1: ‘Sao tôi để mẹ nằm lại nơi đảo vắng?’

  • 19 tháng 4 2018
mộ
Image captionÔng Nguyễn Gia Mạnh bên mộ người mẹ ở đảo Kuku

Tôi biết là mình sẽ khó quên được cảnh ông Nguyễn Gia Mạnh ngồi trơ trọi giữa những ngôi mộ, tảng đá không lưu danh người trên ngọn đồi nơi đảo vắng của xứ người.

“Bán đảo Kuku” theo cách gọi của người Việt là nơi từng có trại tỵ nạn Kuku, nằm trong quần đảo Anambas của Indonesia, phía đông bắc Singapore, nên đường đến đó thì đi từ đảo quốc Sư tử có vẻ thuận tiện hơn là từ Jakarta.

Được biết từ năm 1979 đến giữa thập niên 1980, có lần lượt khoảng 40.000 thuyền nhân Việt Nam đã đặt chân lên Kuku, trước khi được chuyển sang các trại chuyển tiếp chờ đi tỵ nạn ở nước thứ ba.

Và nếu tính cả Indonesia thì con số này lên đến 180.000 thuyền nhân Việt Nam.

kuku

Image captionĐảo Kuku vào thượng tuần tháng Tư năm 2018

Ông Gaylord Barr, một giáo viên người Mỹ từng đến giúp người tỵ nạn Việt Nam tại trại Galang vào đầu thập niên 1980 và có dịp ghé trại Kuku năm 1981, mô tả Kuku “vừa xinh đẹp vừa tàn bạo.”

“Chỉ một tháng trước chuyến thăm Kuku của chúng tôi, một tàu chở người tỵ nạn Việt Nam đã bị đắm khi gần tới đảo, khiến tất cả những người trên tàu bị chết đuối,” ông Barr viết trên website cá nhân.

“Đêm hôm đó, một đại diện của tổ chức World Vision (Tầm nhìn Thế giới) nhờ một thông dịch viên tiếng Việt, trò chuyện cùng những người tỵ nạn trên đảo. Ông nói với những người này rằng họ sẽ không bao giờ nhìn thấy Việt Nam nữa và mô tả với họ về những khó khăn, sự cô đơn và vô vọng của họ khi đến sống ở những nước khác. Ông giải thích rằng hy vọng duy nhất của họ là chấp nhận Chúa Jesus làm vị cứu rỗi. Những người nghe im lặng, một số người đã khóc và một số người bước ra ngoài.”

Tôi lướt qua những tấm ảnh chụp người Việt trên website của Barr và thấy gương mặt đàn ông, đàn bà trầm tư, ánh mắt không che giấu vẻ lo âu, bên cạnh những đứa trẻ vô tư lự đang cười đùa bên các dãy lán trại tạm bợ.

Bây giờ thì người ta không thể tìm ra dấu vết của những dãy lán trại, chùa hay nhà thờ nhỏ của thuyền nhân từ thời các thập kỷ trước.

Tất cả mọi thứ liên quan đến thuyền nhân đã bị chính quyền địa phương tháo gỡ sau thời điểm các trại tỵ nạn trong khu vực đóng cửa và bắt đầu chính sách thanh lọc.

Và Kuku như tôi thấy trong những ngày tháng Tư năm 2018 là một đảo vắng bóng người, nước xanh, cát vàng yên ả như bất kỳ hòn đảo nhiệt đới nào.

kukuBản quyền hình ảnhGAYLORD BARR
Image captionTrại tỵ nạn trên đảo Kuku hồi năm 1981

Nếu có gì nhắc nhớ về nơi từng có cả vạn người Việt Nam trú ngụ ở đảo này thì đó là tấm bia tưởng niệm thuyền nhân hình chiếc tàu trên bãi.

Và những khu mộ thuyền nhân nằm rải rác trên đồi mà để đến viếng, người ta phải băng qua con suối hoặc trảng cỏ và những con dốc cheo leo.

Tuy gọi là khu mộ nhưng tại đó chỉ có một số ngôi mộ về sau này được thân nhân tìm đường quay trở lại xây cất.

Còn phần nhiều trong số đó chỉ là những tảng đá vô tri vô giác, có tảng được khắc ký hiệu nào đấy, có tảng hoàn toàn không lưu danh tính người đã khuất.

‘Năm 37 tuổi của con và của mẹ’

Tôi gia nhập đoàn mười người đi chuyến này, hầu hết trong số họ đến từ Mỹ và Úc. Người dẫn đoàn là Carina Hoàng, nhân vật trong 20 năm qua đã tổ chức những chuyến đưa người tìm mộ thân nhân ở đảo Kuku.

Câu chuyện của Nguyễn Gia Mạnh, một người trong đoàn, cũng có thể là câu chuyện của nhiều thân phận người dân nước Việt, sau biến cố 1975 bỗng chốc gặp cảnh sinh ly tử biệt.

Người đàn ông 46 tuổi này có nụ cười sảng khoái nhưng kiệm lời, hiện đang có cơ sở kinh doanh riêng ở Adelaide, miền Nam nước Úc.

Đây là lần thứ hai, Mạnh quay lại đây viếng mộ mẹ, người qua đời do bị bệnh khi con tàu đưa bà cùng nhiều người khác vượt biên sắp sửa cập vào đảo Kuku hồi năm 1989 sau những ngày lênh đênh trên biển.

Mẹ ông năm đó 37 tuổi.

Ông Mạnh tìm được mộ của mẹ mình cũng năm ông 37 tuổi.

kuku
Image captionĐảo Kuku bây giờ là nơi vắng dấu chân người

Giữa buổi trưa nắng như đổ lửa, tôi theo chân ông băng qua một trảng cỏ, vượt qua một sườn dốc, cây cối rậm rạp để lên viếng mộ mẹ ông, trong khu mộ nằm cạnh một bãi đáp trực thăng, nơi từng đón phái viên Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đến phỏng vấn những người tỵ nạn trên đảo.

“Một ngày của năm 1987, lúc đó tôi mới 15 tuổi, mẹ bảo tôi: “Con đi với bố đi!”, ông Mạnh bắt đầu chuyện của mình.

“Tôi đâu có ngờ đó là lần cuối tôi thấy mặt mẹ.”

“Bố con tôi ra đi trên một chuyến tàu vượt biên chở theo 114 người.”

“Ngoài khơi, tàu bị vô nước nhưng may mắn là được thuyền Tây Đức vớt và đưa cả đoàn vào thẳng trại chuyển tiếp ở Hong Kong.”

“Năm 1988, bố con tôi qua tới Úc. Thời điểm đó, thư từ liên lạc khó khăn, gửi một lá thư vài tháng thì người ở nhà mới nhận được.”

“Lúc giấy tờ bảo lãnh mẹ do bố tôi làm gửi về đến Việt Nam thì bà ở nhà nóng ruột nên đã đi tự đi vượt biên một mình.”

“Mẹ tôi mất khi tàu đã gần tấp vô đảo. Khi người ta thương tình, đem thi thể mẹ tôi nằm trên tàu vào chôn cất trên đảo Kuku, một người dượng của tôi cũng đang ở đó nên báo tin cho bố tôi.”

“Trong nhiều năm liền, tôi vẫn thấy mẹ tôi trong giấc mơ. Mẹ nói: “Bố con cứ đi trước đi, rồi nhà mình sẽ được gặp lại nhau ở đâu đó.”

“Nếu biết đi lần ấy là chia ly thì tôi đã không đi rồi.”

Trong cái nắng cháy da của ngày hè, ông Mạnh ngồi cặm cụi phết sơn trắng lại ngôi mộ của mẹ mình trước khi thắp hương.

Và rồi ông ngồi lặng lẽ, trơ trọi giữa những ngôi mộ, tảng đá không lưu danh người trên ngọn đồi.

Chỉ có tiếng gió xào xạc và vài tiếng chim lẻ loi.

Tôi nhìn quanh và thấy ngọn đồi, hòn đảo này sao giữa ban ngày mà u tịch quá.

Không có lấy một bông hoa, dù chỉ là hoa dại, cho cảnh vật bớt tiêu điều.

Im lặng một hồi lâu, ông tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở.

“Trong những năm khi trưởng thành ở Úc, tôi vẫn đau đáu muốn một ngày đến tìm mộ mẹ nhưng thật sự là tôi không biết cách nào tìm đến đảo này.”

“Cách đây khoảng tám năm, người dì sống bên Nhật báo cho tôi biết là bà thấy hình chụp một cột đá ghi tên mẹ tôi trên website của Carina Hoàng.”

“Lần đó, do giờ chót bận việc đột xuất nên tôi không đi được đến Kuku, mà chỉ nhờ người xây mộ cho mẹ.”

“Bốn năm trước, tôi viếng mộ mẹ lần đầu và nay là lần hai.”

“Mỗi lần đi là một lần đường xa vạn dặm, mất hai ngày rưỡi chỉ để đi-về.”

kuku
Image captionDấu tích của những người đã vĩnh viễn nằm lại đảo Kuku có khi chỉ là các hòn đá chơ vơ không ghi danh tính

“Mỗi lần đặt chân đến đây, cảm xúc trong tôi thật lẫn lộn.”

“Tôi cảm thấy bớt áy náy, dằn vặt khi cuối cùng thì mẹ tôi đã có ngôi mộ được xây cất tươm tất.”

“Nhưng rồi tôi nặng lòng, tự hỏi sao mình có thể để mẹ nằm lại nơi đảo vắng, mỗi lần giỗ chạp, con cháu muốn đến thắp nén hương cũng khó?”

“Mấy dì, cậu muốn mang cốt của mẹ tôi về gửi ở chùa.”

“Nhưng cũng có người trong gia đình nói thôi, mẹ tôi dù sao cũng đã mất, mọi chuyện âu cũng tại số phận, nên để bà nằm yên lại nơi này.”

Tiếng gió vẫn xào xạc nhưng cái nắng nóng giữa trưa hè vẫn chưa hết oi bức.

Tôi bất giác hỏi: “Sao ngày đó cả gia đình ông có ba người mà không đi chung một chuyến tàu?”

Ông Mạnh đáp: “Tôi cũng có hỏi bố tôi câu hỏi ấy. Ông nói, một người phải ở lại Việt Nam, nếu có bất trắc, hai bố con đi không lọt thì còn người bên ngoài để lo liệu, thăm nuôi.”

kuku
Image captionÔng Nguyễn Gia Mạnh bên bia tưởng niệm thuyền nhân trên đảo Kuku

Tôi hỏi tiếp: “Tại sao cả nhà ông quyết định ra đi?”

“Bố tôi làm đại úy cảnh sát thời Sài Gòn,” ông Mạnh đáp.

“Sau biến cố 1975, ông phải đi cải tạo 10 năm.”

“Bố chưa bao giờ kể cho tôi nghe ông trải qua thời khắc khó khăn đó thế nào.”

“Và tôi cũng không hỏi do không muốn gợi lại chuyện đau lòng.”

Tôi lại hỏi: “Có bao giờ ông nghĩ nếu mình đang còn ở Việt Nam thì thế nào, có tốt hơn bây giờ không?”

“Ngoại trừ chuyện của mẹ mình, tôi không có gì phải tiếc nuối về chuyện ra đi và cuộc sống trong hiện tại cả.”

“Tôi tin vào sự sắp đặt của số phận cũng như tin mẹ luôn phù hộ và luôn dõi theo mỗi bước của tôi trên đường đời…” ông Mạnh nói.

Khi ánh nắng cuối ngày sắp tắt, trước lúc rời đảo về lại đất liền, ông Mạnh đi một vòng thắp những nén nhang cho những người không may nằm lại ở đây.

Giữa một số mộ phần có danh tính người Việt và người gốc Hoa, vẫn còn đó những phận người mãi mãi nằm lại nơi đảo xa mà không ai có thể biết danh tính và câu chuyện đời run rủi đưa họ đến kết cục này…

BBC

______________

Đọc thêm:

Đảo Kuku, bài 2: 39 năm đằng đẵng lời hẹn quay về…

  • 23 tháng 4 2018
  • kuku
Image captionBà Ôn Trương và con trai tại đảo Kuku trở lại đảo Kuku lần đầu sau 39 năm

Trong cái tĩnh lặng của khu mộ trên đảo Kuku, bà cụ 77 tuổi nói với giọng bùi ngùi: “Thôi thì cứ làm mộ cho ông ở đây, phải ông thì ông hưởng, không thì người khác hưởng, cùng là người mình với nhau thôi mà.”

Trước tháng 6/1979, Kuku chỉ là một trong 17.508 hòn đảo lớn nhỏ của Indonesia, và có lẽ địa danh này chỉ được một số người dân sống trên những hòn đảo gần đó biết đến.

Rồi từ khi nhiều người Việt bỏ nước ra đi sau biến cố 1975, Kuku đã lần lượt tiếp đón hơn 40.000 người tỵ nạn Việt Nam. Có thời điểm chỉ trong hơn một tuần, người ta ghi nhận có đến hơn 20.000 người tỵ nạn đang tạm trú trong những lán trại trên đảo.

Trong hơn một thập niên, Kuku đã chứng kiến ​​cảnh sống tạm bợ nuôi hy vọng của hàng vạn người tỵ nạn đến và đi.

Những năm tháng đó, hòn đảo này là nơi chào đời những sinh linh bé bỏng, và tiếc thay, cũng là nơi nằm lại vĩnh viễn của khoảng 200 người, đa số qua đời vì bệnh tật trước khi đến được bến bờ tự do.

Trại tỵ nạn Kuku đóng cửa vào đầu những năm 1990.

kukuBản quyền hình ảnhGAYLORD BARR
Image captionLán trại của thuyền nhân trên đảo Kuku năm 1981

Một trong số những người vượt biên từng sống ở trại Kuku là cố nhà văn Nguyễn Mộng Giác (tác giả của Sông Côn Mùa Lũ, Xuôi Dòng, Mùa Biển Động…).

Ông kể lại trên trang Talawas: “Tháng 12/1981, tôi vượt biên qua ngả Nam Dương [Indonesia], đến đảo Kuku, rồi sau đó chuyển qua đảo Galang. Tôi ở trại tỵ nạn Nam Dương hai tháng. Ðây là thời kỳ nhịp độ viết lách sung mãn nhất trong đời viết của tôi. Trong thời gian đó, tôi viết một số truyện ngắn, sau này in trong hai bộ Ngựa Nản Chân Bon Xuôi Dòng.”

“Ấm ức về những gì mình đã không viết được trong thời gian ở Việt Nam, trong thời gian này, cứ mỗi ngày tôi viết một truyện ngắn. Khung cảnh đảo Kuku thời ấy thơ mộng lắm. Hòn đảo xanh giữa biển, rừng cây xanh và đám mây là là, khung cảnh rất thần tiên. Tôi lấy tấm ván kê làm bàn trên sườn núi, ngồi đó viết từ sáng đến chiều. Trên đầu là mây bay, bên cạnh mình là những con khỉ chí chóe, và cứ như vậy mỗi ngày tôi viết một truyện ngắn…”

‘Nộp vàng để đi’

Trong đoàn đến Kuku vào thượng tuần tháng 4/2018 có bà Ôn Trương, 77 tuổi, đi cùng hai con trai.

Gia đình bà là người Hoa sống ở Sài Gòn. Bà không rõ bố mẹ mình qua sống tại Việt Nam vào năm nào mà chỉ biết bà được sinh ra ở Việt Nam.

Tháng 6/1979, vợ chồng bà cùng 5 đứa con đi vượt biên trên tàu 1096 “cùng hàng trăm người.”

Hai cậu con trai của bà thời điểm đó vẫn là trẻ vị thành niên. Giờ quay trở lại đảo Kuku sau 39 năm thì một trong hai anh đã nghỉ hưu sớm ở Mỹ.

Ngồi với tôi trên bãi cát của đảo Kuku trong một buổi trưa vắng lặng, bà Ôn Trương bắt đầu câu chuyện bằng một nhận xét: “Sau 39 năm mới quay lại đây, đảo này giờ nhìn khác quá.”

“Hồi đó cây cối trên đảo không um tùm như bây giờ, vì những người trong trại đốn cây làm củi nhóm lò, nhiều người đốn nên cây cối trên đảo trơ trọi dần.”

“Hồi đó con suối trên đảo cũng tuôn nước rất mạnh, chứ không chảy rỉ rả như bây giờ.”

Bà nhắc lại chuyện cũ: “Ngày đó, cả nhà tôi nộp vàng để đi, cứ một người là mười cây vàng. Trong nhà có nhiêu là nộp hết.”

“Sau này nghe kể lại là chúng tôi đi vừa hôm trước hôm sau là ngôi nhà ở đường Hai Bà Trưng ở Sài Gòn bị người của chính quyền đến niêm phong liền.”

“Lần đó nhà tôi đi rất gấp nên không kịp sang tên nhà.”

kukuBản quyền hình ảnhGAYLORD BARR
Image captionNgười tỵ nạn Việt Nam trên đảo Kuku hồi năm 1981

Bà cụ nhìn những con sóng đang vỗ miên man vào bờ và nói tiếp: “Thật ra hồi đó vợ chồng tôi không tính đi đâu.”

“Chúng tôi không ghét chế độ, không ghét Cộng sản, vì nhà mình có ai làm tướng tá thời Sài Gòn đâu.”

“Nhưng lúc đó nhìn quanh thấy các em bà con rủ nhau đi hết.”

“Nhà tôi có ba đứa con trai sắp đến tuổi đi lính, ngẫm thấy có bao nhiêu tiền lo chạy lính cũng hết.”

“Rồi thì má chồng tôi mất, chồng tôi bảo thôi đi đi ở lại làm gì.”

“Hành trình trên tàu của chúng tôi rất suôn sẻ.”

“Nhưng cuộc đời đúng là ai học được chữ ngờ. Lên đảo Kuku được đúng một tháng thì chồng tôi đột ngột bị bệnh rồi qua đời. Lúc đó ổng 46 tuổi.”

“Vậy là đến lúc mất, chồng tôi còn chưa kịp làm giỗ đầu cho má của ổng nữa.”

“Tôi nhờ những người sống trong lán trại cạnh bên đóng cho ổng tấm ván rồi chôn ở khu đất không xa một con suối, đánh dấu bằng một hòn đá có ghi tên ổng.”

“Tôi cùng các con ở Kuku khoảng một năm thì chuyển sang trại Galang.”

“Ngày rời đảo Kuku, tôi có ra mộ khấn ổng phù hộ cho các con và hẹn sẽ quay lại xây mộ tươm tất.”

“Tháng 1/1981, chúng tôi đặt chân đến bang California, Mỹ, bắt đầu cuộc sống mới.”

kuku
Image captionBà Ôn Trương tìm mộ người chồng năm xưa được chôn ở đây và đánh dấu bằng một hòn đá ghi tên ông nhưng nay đã bị phai dấu

“Tôi đã sáu lần về Việt Nam kể từ lúc ra đi nhưng đây mới là lần đầu quay lại Kuku vì nói thật là không biết đi thế nào.”

“Một phần cũng là vì tôi không biết đọc chữ.”

“Một bữa thằng con út của tôi coi TV thấy bản tin về Carina Hoàng đưa người về Kuku tìm mộ nên mới liên lạc cô ấy để đưa tôi đi chuyến này.”

Buổi trưa hôm ấy, tôi lùi lại một bước để dành một không gian riêng tư cho bà Ôn Trương và hai con trai đang lần tìm từng hòn đá tại khu mộ nằm không xa một con suối trên đảo.

Nhưng điều khó khăn là sau 39 năm, hòn đá ghi tên người chồng bà mất hồi năm 1979 đã phai dấu và có thể lẫn vào những hòn đá khác nằm tương tự chung quanh.

Ký ức về nơi chôn ông sau gần bốn thập niên trở lại nay chỉ còn là “nhớ mài mại chỗ này ngày đó có đánh dấu.”

Sau một hồi khấn vái và nhang khói, bà cụ nói với giọng bùi ngùi: “Thật sự trong lòng tôi cũng không chắc lắm là ổng nằm lại ngay dưới hòn đá này.”

“Nhưng chẳng lẽ phải đào lên rồi thì… lỡ không phải ổng thì cũng phiền hà cho người khác.”

“Thôi thì cứ làm mộ cho ông ở đây, phải ông thì ông hưởng, không thì người khác hưởng, dù sao thì cũng là người mình nằm lại với nhau thôi mà.”

Việc xây một ngôi mộ trên đảo cần tối thiểu hai ngày vì phải vận chuyển vật liệu và thuê nhân công địa phương từ đất liền ra.

kuku
Image captionSau 39 năm, cảnh vật trên đảo đã không còn như xưa

Sau khi ngôi mộ của chồng bà Ôn Trương được xây xong, gia đình làm lễ cúng mộ và chúng tôi lên tàu rời đảo.

Tàu đã rẽ sóng, tôi thấy bà ngoái lại nhìn hòn đảo phía sau với vẻ lưu luyến.

“Đây là lần đầu tôi về lại đây và… cũng là lần cuối,” bà nói.

“Ở tuổi của tôi, mỗi lần đi xa là hai đầu gối tê nhức suốt chặng bay dài.”

“Nhưng chắc chắn là rồi những năm về sau, các con cháu sẽ thay tôi đi viếng mộ ổng ở đảo.”

“Chắc ổng cũng sẽ không trách gì tôi đâu, dù khi còn sống, ổng rất nóng tính…”

Giọng bà như lẫn vào tiếng máy chạy tàu.

Hai bên mạn tàu bọt nước tung trắng xóa, gió biển mát rượi như muốn xua tan cái nóng oi bức của ngày hè.

Tôi tự hỏi, đến nay đã có bao chuyến tàu đưa người tìm về với mộ thân nhân trên đảo và những con sóng vô tri có vỗ về cho lòng người dịu lại sau mỗi chuyến đi?

BBC

______________

Đọc thêm:

Đảo Kuku, bài 3: Chuyến đi ‘có thể chưa là cuối cùng’ của Carina

 

Carina Hoàng: “Vì lòng mình muốn trở lại’

Trong hai mươi năm qua, Carina Hoàng đã có tám chuyến về lại đảo Kuku để đưa người tìm mộ thuyền nhân và có lúc bà nghĩ chuyến đi vào thượng tuần tháng 4/2018 “là chuyến cuối.”

Bà Carina, một thuyền nhân từng trải qua thời gian ở đảo Kuku, là tác giả của tập sách ảnh Thuyền Nhân được đánh giá “không chỉ là một cuốn sách ghi nhận sự kiện mà còn là một tài liệu lịch sử”.

Tác phẩm này thu thập thủ bút, nhật ký, thư từ, điện tín và lời kể của 38 người từng đi vượt biên.

Vài tháng trước khi tổ chức chuyến về đảo Kuku tìm mộ vào thượng tuần tháng 4/2018, bà Carina nhận được một bức thư viết:

Em tôi mất ở Indonesia vào năm 1979. Mấy năm sau gia đình mới dám báo tin buồn cho mẹ tôi biết.”

“Khi biết tin, bà rất đau buồn và hay khóc mỗi khi nhớ con. Khi mẹ tôi ngoài 80 tuổi, dù trí nhớ đã kém. Bà thường xuyên nói với gia đình là “ước nguyện duy nhất” của bà là mang được tro cốt con gái về quê nhà.”

Nay mẹ tôi đã qua đời. Gia đình cũng biết rằng không dễ thực hiện ước nguyện của bà.

Cầu xin ơn trên giúp cho chị Carina có khả năng và nghị lực để giúp chúng tôi…”

Carina
Image captionBà Carina sơn lại dòng chữ đã phai màu ghi trên mộ của một thuyền nhân nằm lại ở đảo Kuku

‘Tấm lòng và khả năng’

“Lời nhờ cậy của người viết thư cũng là nỗi khắc khoải của tôi trong những năm qua,” bà Carina mở đầu câu chuyện với người viết.

“Năm 1998, thể theo ý nguyện của người bác ruột, tôi tìm đủ mọi cách về đảo, tìm được nơi chôn người anh họ và đã hỏa táng, đem cốt về cho bác thờ cúng.”

“Đến năm 2009, tôi cũng giúp được một số người về đem cốt thân nhân đi.”

“Nhưng từ thời điểm ấy về sau thì nhà chức trách Indonesia không cho phép dời hoặc bốc hài cốt của bất kỳ mộ phần nào của thuyền nhân trên đảo.”

“Họ nói đây là di tích lịch sử và cũng là phong tục.”

“Tuy vậy, có suy đoán là chính quyền địa phương muốn giữ mộ để các du khách là thân nhân của người đã khuất, quay trở lại thăm viếng, tạo công ăn việc làm cho người địa phương.”

“Ước tính có khoảng 400, 500 mộ thuyền nhân tại cụm đảo này.”

Để trả lời cho câu hỏi “Tại sao và làm sao, sau bao nhiêu năm, Carina Hoàng vẫn trở lại những trại tỵ nạn ngày xưa trên các hoang đảo ở Nam Dương [Indonesia], bà viết trên website cá nhân: “Mỗi chuyến đi, tôi mất mấy tháng để tổ chức, liên lạc với mọi người trong nhóm cũng như chính quyền ở Nam Dương, và sắp xếp công việc làm và gia đình để có thể thực hiện chuyến đi.”

“Tôi dùng thời gian, công sức và tài chánh của mình cho mỗi chuyến đi với tính cách tự nguyện.”

“Tôi thực hiện điều này là vì tôi có tấm lòng, và vì có khả năng.”

kukuBản quyền hình ảnhGAYLORD BARR
Image captionĐảo Kuku hồi năm 1981

Bà nói thêm với người viết: “Cứ mỗi chuyến đi như thế này thì tôi lại vui theo, buồn theo những người đi cùng mình.”

“Vui vì mình giúp người ta trở lại và tìm được mộ thân nhân.”

“Buồn vì chứng kiến những người còn nặng lòng khi để thân nhân nằm lại trên đảo xa mà không phải muốn đến viếng lúc nào cũng được.”

“Mỗi năm gần như chỉ có hai tháng Tư và Mười là tương đối an toàn để đi Kuku, những tháng còn lại thì tàu hay gặp mưa bão hoặc biển động.”

“Lần này đi, tôi cũng nghĩ, thôi chắc đây là chuyến cuối.”

“Vì mình đã quá cực về tinh thần và sức lực.”

“Nhưng dường như có những chuyện liên quan đến tâm linh cứ níu giữ mình lại và tự nhủ mình phải tiếp tục, khi nhận được lời nhắn, thư từ nhờ cậy của người ta.”

kuku
Image captionKuku ngày nay nhìn qua giống như một đảo du lịch

Buổi trưa ngày cuối cùng trên đảo Kuku, Carina và con gái của bà tỉ mẩn ngồi sơn lại từng chữ bị phai màu trên các bia mộ.

Bà và con gái lặng lẽ làm việc ấy trong cái nắng oi bức.

Một hồi sau, bà tiếp tục câu chuyện: “Mỗi mộ phần ở đảo đều là hoàn cảnh, nỗi niềm chất chứa của một gia đình.”

“Trong một chuyến tìm mộ, tôi nhận thấy có một ngôi mộ một phụ nữ nhìn tấm bia rất chắc chắn.”

“Sau đó người anh của cô này nói cho tôi hay rằng ông ấy lặn xuống biển gỡ sắt tàu chìm làm bia cho em, để sau này nếu có trở lại thì hy vọng dễ tìm hơn.”

“Đau lòng là có ngôi mộ chôn chung hai vợ chồng mất trên đảo nhưng mộ của họ sau này không còn nguyên vẹn vì nghi là bị ai đó quật tìm của chôn theo.”

thuyền nhânBản quyền hình ảnhAMAZON
Image captionTác phẩm Thuyền Nhân được ấn hành hồi năm 2015

Trên chiếc tàu trở về đất liền, Carina chia sẻ thêm về tập sách Thuyền Nhân: “Trong quá trình thu thập tư liệu cho cuốn sách này, chuyện làm tôi day dứt nhất là về những người phụ nữ bị hãm hiếp”

“Nhưng người khổ tâm hơn là những người có thân nhân bị hải tặc bắt đi và không biết những chuyện gì đã xảy ra.”

“Đôi khi họ ước gì người thân của họ đã chết, vì ít nhất họ còn có thể thương tiếc. Nhưng họ không thương tiếc được. Họ không bao giờ biết rõ. Và đó là một trong những thảm trạng của cuộc đào thoát khỏi Việt Nam sau 1975.”

Tôi hỏi: “Vậy thì ngày đó, sao bà đi vượt biên?”

Carina đáp: “Bố tôi là sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, bị bắt vào cuối tháng 4/1975 và bị giam gần 14 năm.”

Bà tránh không dùng các từ “học tập cải tạo” khi nói về bố mình.

“Toàn bộ tài sản của gia đình bị tịch thu. Với lý lịch gia đình như vậy, mẹ tôi lo là khi các con của bà đủ tuổi thì sẽ bị bắt đi nghĩa vụ quân sự. Nhất là thời điểm đó chiến tranh Việt Nam và Campuchia đang diễn ra.”

“Năm 1979, tôi 16 tuổi, mẹ đành phải để tôi ra đi vì bà không muốn mất con ở chiến trường.”

kukuBản quyền hình ảnhGAYLORD BARR
Image captionBên trong một ngôi chùa nhỏ của người Việt trên đảo Kuku hồi năm 1981, nay không còn tồn tại dấu vết gì về ngôi chùa

“Bà nghĩ gì về biến cố 1975 và liệu có liên hệ gì giữa sự kiện này và các chuyến vượt biên của người Việt Nam?,” tôi hỏi.

“Bất cứ ai đã từng chứng kiến hoặc trải qua biến cố 1975 (ngoại trừ trẻ nhỏ) sẽ không bao giờ quên được trong quãng đời còn lại của mình,” bà Carina đáp.

“Đối với rất nhiều người dân miền Nam Việt Nam thì biến cố 1975 là nguồn cơn của rất nhiều sự mất mát, đau thương cho cả người ở lại và kẻ ra đi…”

Ben Ngô _ BBC

Carina Hoàng hiện đang cùng chồng con sống tại Perth, thủ phủ miền Tây nước Úc. Bà sắp cho xuất bản cuốn Hồi Ký Talbot Bashall do bà chấp bút. Trong cuốn sách này, Bashallmột người Anh từng là trưởng Trung tâm Quản lý các trại tỵ nạn Hong Kong trong giai đoạn 1979 – 1982, chia sẻ những hồi ức sống động về đời sống thuyền nhân Việt Nam.

******

Bình luận trên Facebook BBC Tiếng Việt

Sau khi BBC Tiếng Việt đăng tải loạt bài về hành trình thăm mộ thuyền nhân tại đảo Kuku, Indonesia, trang Facebook của chúng tôi đã ghi nhận được nhiều phản hồi. Dưới đây là một vài ý kiến trong số đó:

Bạn đọc David Nguyn cho hay: “Không ngờ những kỷ niệm xưa nhắc nhớ mình về đảo Kuku. Mình đã từng đến đảo một ngày vào năm 1989 trên một tàu Cao Ủy chở 256 người tỵ nạn. Trên tàu lúc đó có một người chết do bệnh sốt rét, vàng da sau khi rên rỉ khoảng ba ngày. Tàu Cao Ủy phải ghé đảo Kuku và mình là một trong sáu người tình nguyện khiêng người chết (một phụ nữ khoảng 32 tuổi), bỏ vào bốn tấm ván đóng thô sơ đưa xuống chiếc ghe nhỏ và chèo vô đảo. Từ bãi phải khiêng thi thể khoảng 200 mét lên một đồi dốc cạnh bãi đáp trực thăng. Nơi đó chính là “nghĩa địa đảo Kuku”. Lúc đó tôi nhớ có khoảng mười ngôi mộ. Sau đó mình được tắm nước ngọt và đi trở lại tàu qua trại tỵ nạn Galang…”

Bạn đọc Võ Tiến Mạnh viết: “Rất xúc động về một giai đoạn lịch sử mà người Việt Nam chúng ta đã từng phải trải qua, rất may mắn có nhiều quốc gia đã dang rộng vòng tay nhân từ để chào đón những người Việt máu đỏ da vàng, để rồi giờ đây chúng ta đã có một cộng đồng người Việt tại hải ngoại, thịnh vượng và phát triển.”

Bạn đọc Cẩm Hằng ghi: “Lịch sử của giai đoạn trả thù thanh lọc và xua đuổi những nạn nhân thời phải bỏ nước ra đi vì không thể ở lại được. Người may mắn đến được bến bờ tự do, kẻ không may thì bỏ xác ngoài biển hoặc nằm lại nơi đảo vắng. Tôi cũng có biết trong hoàn cảnh đó…”

kukuBản quyền hình ảnhGAYLORD BARR
Image captionKuku và các đảo trong quần đảo Anambas nhìn từ tàu Seasweep hồi năm 1981

Đây cũng là bài cuối về hành trình tìm mộ thuyền nhân ở đảo Kuku, Indonesia vào thượng tuần tháng 4/2018.

Có thể bạn sẽ thích

Bình Luận

Your email address will not be published.