Trang Chủ / VĂN THƠ-KIẾN THỨC-THƯ GIÃN / Chu Ân Lai và vấn đề Hoàng Sa

Chu Ân Lai và vấn đề Hoàng Sa

Chu Ân Lai và vấn đề Hoàng Sa

  • 4 tháng 7 2017
Hồ Chí Minh và Chu Ân LaiBản quyền hình ảnh KEYSTONE-FRANCE/GETTY IMAGES
Image caption Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam DCCH và Thủ tướng TQ, Chu Ân Lai ở Bắc Kinh năm 1955

Bản đồ với đường chín đoạn là phản ảnh hai nghìn năm lịch sử Trung Quốc,” Phó Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Trung Quốc, Vương Quán Trung tuyên bố tại diễn đàn đối thoại Shangri-La năm 2014.

Sở dĩ ông quả quyết như vậy là vì tài liệu Trung Quốc luôn khẳng định: chính thủy thủ Trung Quốc đã phát hiện ra những quần đảo Huangyan (Hoàng Sa) từ hai nghìn năm trước.

Bây giờ đến lượt Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Phạm Trường Long tuyên bố còn mạnh mẽ hơn.

Theo tường thuật của Tân Hoa Xã thì trong chuyến viếng thăm Việt Nam vừa qua (ngày 18 tháng 6), tướng Long đã nhấn mạnh rằng “toàn bộ các hải đảo ở Nam Hải (Biển Đông) đều thuộc lãnh thổ Trung Quốc kể từ xa xưa.”

Trong những năm qua, giới truyền thông và lãnh đạo Trung Quốc luôn dùng lịch sử hai nghìn năm để chứng minh chủ quyền ở Biển Đông.

Như vậy, có thể là những thế hệ trẻ đã không biết hoặc không nhớ rằng chính người đàn anh vĩ đại của mình – ông Chu Ân Lai – đã thú nhận rằng TQ đã xâm lăng Việt Nam từ hai nghìn năm trước, như được đề cập trong bài này.

Người tranh đấu cho đường chín đoạn

Năm 1948, dưới thời Thống chế Tưởng Giới Thạch, một bản đồ hành chính của Trung Hoa Dân Quốc có kèm theo một Phụ lục về “vị trí các đảo Nam Hải” gồm 11 vạch được công bố.

Tuy nhiên chính phủ ông Tưởng chỉ xác định một cách mập mờ, không đệ trình yêu sách cho Liên Hiệp Quốc.

Năm 1949, sau khi ông Mao Trạch Đông chiếm được lục địa, Trung Quốc bỏ đi hai vạch ở Vịnh Bắc Việt và vẽ lại bản đồ với một tuyến chín vạch chi tiết.

Tác giả của sáng kiến này chính là Chu Ân Lai (1898-1976), một con người đầy quyền lực, đã thoát được bao nhiêu cơn lốc chính trị của thời gian Cách Mạng Văn Hóa và Hồng Vệ Binh để giữ được chức thủ tướng 27 năm tới khi qua đời.

Đường Lưỡi Bò
Image caption Đường Chín Đoạn do TQ đưa ra

Lúc còn đương thời, ông Chu đã hăng say tranh đấu cho tuyến chín vạch, nhưng vào lúc hoàng hôn của cuộc đời thì trong nơi hậu trường kín đáo, chính ông lại lên án tổ tiên ông đã bóc lột Việt Nam. Như vậy, bằng một cách gián tiếp, ông cũng đã tự phê phán về hành động của chính mình.

Vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa

Vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam thì đã được nhiều sử gia, luật gia, chứng minh rõ ràng. Nơi đây chúng tôi chỉ nhắc lại vài sự kiện lịch sử liên hệ để nói đến câu chuyện tâm sự của ông Thủ tướng họ Chu với tiến sĩ Henry Kissinger (Cố vấn TT Nixon) về lịch sử hai nghìn năm, và về con người Việt Nam.

Tháng 3, 1945: sau khi lật đổ Pháp ở Đông Dương, Nhật đã trao trả chủ quyền về lãnh thổ cho Việt Nam. Ngày 11 tháng 3, 1945 Đại sứ Nhật Masayuky Yokohama đã nhân danh Nhật Hoàng trao trả độc lập cho Hoàng đế Bảo Đại:

Tâu Hoàng Thượng, đêm hôm qua, chúng tôi đã chấm dứt chủ quyền của Pháp ở đất nước này,” Đại sứ Mark Masayuki Yokohama nói với cựu hoàng Bảo Đại.

Tôi được trao nhiệm vụ dâng nền độc lập của Việt Nam cho Hoàng Thượng,” có nghĩa là trao trả chủ quyền toàn thể lãnh thổ gồm cả các hải đảo. Ngày hôm sau, vua Bảo Đại mời ông Yokohama tới để trao cho ông một bản sao của tuyên ngôn độc lập Việt Nam.

Năm 1951: một hiệp ước quốc tế gọi là ‘Hiệp Ước Hòa Bình với Nhật‘ hay ‘Hiệp Ước San Francisco’ (vì ký ở Memorial Opera House tại thành phố San Francisco) được 48 quốc gia tham dự và ký kết ngày 8 tháng 9. Trong số những quốc gia thành viên không có cả hai chính phủ Trung quốc (Bắc Kinh và Đài Loan) nhưng có chính phủ Quốc Gia Việt Nam.

Vì hiệp ước này không đả động gì tới hai nhóm quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, lại trao đảo Pratas (Đông Sa) cho Liên Hiệp Quốc, bởi vậy ngay trước và sau khi ký kết (ngày 15 tháng 8, và 18 tháng 9, 1951) Thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố mạnh mẽ rằng Hiệp ước San Francisco là bất hợp pháp và khẳng định chủ quyền của TQ ở Biển Đông.

Vào dịp này, ông Chu chính thức công bố cho quôc tế một bản đồ chi tiết: lãnh thổ Trung Quốc gồm cả khu vực ở Biển Đông – vẽ bằng chín cái vạch, trông giống như hình lưỡi con bò, bao gồm tới cả trăm quần đảo, bãi cạn.

Bảy năm sau, lập trường này còn được nhắc lại lần thứ hai – vào năm 1958 – khi ông Chu tuyên bố với quốc tế quyết định về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của TQ và các đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Trung Quốc chuẩn bị ăn mừng năm 2049

Trong cuốn sách “Cuộc Chạy Đua 100 Năm” (The Hundred Year Marathon) xuất bản năm 2015 chuyên gia về Trung Quốc nổi tiếng Michael Pillsbury khẳng định: Trung Quốc đang chuẩn bị để thay thế Mỹ trong vai trò là cường quốc mạnh nhất thế giới vào năm 2049 khi Bắc Kinh ăn mừng kỷ niệm 100 năm chiến thắng.

Để tiến tới mục tiêu ấy, Trung Quốc tập trung để xây một tuyến quốc phòng ngay trên biển. Trong cuốn “Vạn Lý Trường Thành Trên Mặt Biển: Hải quân Trung Quốc bước vào Thế Kỳ 21″ (2010), tác giả Bernard Cole (chuyên gia về Á Châu, giáo sư tại Đại Học Quốc Phòng Mỹ) chứng minh rằng chiến lược của TQ là “lục địa hóa mặt biển” (territorialization of the sea), làm sao để kiểm soát được một vùng biển bao trùm 200 hải dậm tính từ vùng duyên hải.

Hai nhận xét này giải mã được tất cả các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông trong những năm qua, gây nên tình trạng căng thẳng ngày nay.

Trong bối cảnh ấy, tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La vừa qua (ngày 3 tháng 6, 2017), Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã cáo buộc việc Trung Quốc khinh thường lợi ích của các quốc gia khác và không tuân theo luật quốc tế. Trung Quốc kịch liệt phản đối và cho đó là những “nhận xét vô trách nhiệm.”

Xây dựng Lãnh Thổ Xanh

Việc “coi thường lợi ích của các quốc gia khác” đã được thể hiện rõ ràng qua những hành động mới nhất. Hãy bỏ qua việc lắp đặt giàn khoan Hải dương 981 năm 2014 và những diễn biến tiếp theo đó, gần đây TQ lại đưa giàn khoan khổng lồ “Lam Kình 1″ (Blue Whale 1) cao tương đương một tòa nhà 34 tầng (khoảng 118m) tới Biển Đông.

Ngoài giàn khoan Lam Kình 1 và việc tiếp tục xây dựng các căn cứ quân sự tại các hải đảo, bãi cạn, những hành động trong ba tháng qua còn gồm có:

Tàu du lịch Trường Lạc Công Chúa (Changle Princess) đã khởi hành từ thành phố Tam Á thuộc tỉnh đảo Hải Nam chở theo 308 du khách trong một chuyến đi bốn ngày ba đêm đến nhóm đảo Lưỡi Liềm thuộc quần đảo Hoàng Sa (tin ngày 3/3/2017). Tàu du lịch mới này có thể chuyên chở tới gần 500 người, có 82 phòng, với các dịch vụ ăn uống, giải trí, mua sắm, chăm sóc y tế và bưu điện. Trước đó, phía Trung Quốc đã tiết lộ các dự án khách sạn, biệt thự nghỉ dưỡng và các thương xá trên nhóm đảo Lưỡi Liềm.

Chính quyền tỉnh Hải Nam ở miền nam Trung Quốc cho biết sẽ tổ chức các chuyến du lịch thường xuyên ra quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa) ở Biển Đông vào năm 2020. Truyền thông Trung Quốc cho biết rằng tỉnh Hải Nam đang nâng cấp các hải cảng và có kế hoạch tổ chức các tuyến tàu du lịch khắp vùng Biển Đông gồm các nước thuộc “Con đường tơ lụa trên biển”.

Hoàng SaBản quyền hình ảnh VCG/GETTY IMAGES
Image caption Hoàng Sa: người Trung Quốc đeo bình khí để lặn biển ở nơi được quảng cáo là bãi nước xanh đẹp tuyệt trần ở Vĩnh Lạc Đảo

Chiêu dụ du khách tới các hải đảo để thưởng ngoạn khung cảnh thần tiên: trời xanh, biển rộng, không phải ở chung cư chật chội, chen chúc như trên đất liền, lại dư thừa hải sản tươi sống, tất nhiên là sẽ rất thành công. Như vậy, chẳng mấy lúc phong trào di dân đến hải đảo sẽ bùng lên. Thế là nhiều nhà đầu tư từ bốn phương sẽ đổ xô vào các hải đảo.

Cùng một lúc, Bắc Kinh lại hình thành được một lực lượng lao động cần thiết để khai thác các loại kỹ nghệ hóa-dầu lấy từ dầu thô ở vùng gần Hoàng Sa, Trường Sa. Các hoạt động xây cất nhà cửa và chế biến sẽ theo sau: như thực phẩm, may mặc, đồ tiêu dùng và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của người dân hải đảo.

Như vậy, đến năm 2049 thì Bắc Kinh lại có thêm một “Trung Quốc Hải Đảo” vì đã hoàn tất việc phát triển được một lãnh thổ xanh, trong lành.

Lịch sử hai nghìn năm

Hai nghìn năm trước Trung Quốc đã xâm lăng Việt Nam.

Đây không phải là lập luận của một luật gia, sử gia, học giả mà là lời của chính Thủ tướng danh tiếng nhất của CHND Trung Hoa.

Tài liệu của Tòa Bạch Ốc (đã được giải mật) ghi thật rõ biên bản cuộc họp kín tại Bắc Kinh ngày 9 tháng 7, 1971 giữa Thủ tướng Chu Ân Lai và Cố vấn Henry Kissinger. Lúc ấy ông Kissinger gặp ông Chu để sắp xếp chuyến viếng thăm của Tổng thống Nixon (tháng 2, 1972).

Thật lạ lùng: trong buổi họp, ông Chu đã xác nhận: “Hai nghìn năm trước Trung Quốc đã xâm lăng Việt Nam… tổ tiên chúng tôi là những người bóc lột nhưng bị đánh bại bởi hai nữ tướng”.

Hành động xâm lăng cũng không dễ, vì ngay từ đầu Trung Quốc đã bị đánh bại, lại bị đánh bại bởi hai nữ tướng.

Nói tới khí phách của con người Việt Nam, ông Chu xác nhận:

“Hai người nữ anh hùng ấy đã đánh bại tổ tiên của chúng tôi là những người bóc lột’ (These two heroines who defeated our ancestors who were exploiters).

Biên bản Tòa Bạch Ốc ghi lại đàm thoạ:

-Thủ tướng Chu: “Việt Nam là một nước anh hùng.”

-TS Kissinger: “Họ là một dân tộc anh hùng, một dân tộc vĩ đại.”

Thủ tướng Chu:

“Họ là một dân tộc vĩ đại, anh hùng và đáng khâm phục. Hai nghìn năm trước Trung quốc đã xâm lược họ, và Trung quốc đã bị đánh bại. Lại bị đánh bại bởi hai người đàn bà, hai nữ tướng.”(Nguyên văn: They are a great and heroic and admirable prople. Two thousand years ago China committed aggression against them, and China was defeated. It was defeated by two ladies, two woman generals).

Ít người, kể cả người Trung Quốc được biết đến câu chuyện là chính Thủ tướng Chu Ân Lai khi sang thăm Việt Nam đã tới Đền thờ Hai Bà Trưng để phúng viếng. Ông Chu nói tiếp:

Chu Ân Lai và Richard NixonBản quyền hình ảnh BETTMANN/GETTY IMAGES
Image caption Thủ tướng Chu Ân Lai mở tiệc đãi Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon sang thăm Trung Quốc năm 1972

Và khi tôi sang Việt Nam với tư cách là đại diện của nước Trung Hoa mới tôi đã đi thăm viếng Hà Nội, tôi đã đích thân đến tận mộ hai nữ tướng ấy và đặt vòng hoa trên những ngôi mộ để tỏ lòng kính trọng của tôi đối với hai vị nữ anh hùng, họ là những người đã đánh bại tổ tiên chúng tôi là những người bóc lột.” (Nguyên văn: And when I went to Vietnam as a representative of New China on a visit on North Vietnam, I went personally to the graves of these two women generals and left wreaths of flowers on the graves to pay my respects for these two heroines who had defeated our ancestors who were exploiters).

Lịch sử Việt và Trung viết về Hai Bà Trưng

Về Hai Bà Trưng, sử gia Trần Trọng Kim ghi lại: “Năm Giáp Ngọ (năm 34 công nguyên) là năm Kiến Võ thứ 10, vua Quang Vũ sai Tô Định sang làm Thái Thú quận Giao Chỉ. Tô Định là người bạo ngược, chính trị tàn ác, người Giao chỉ đã có lòng oán giận lắm. Năm Canh Tí (năm 40) người ấy lại giết Thi Sách, người ở huyện Châu Diên (phủ Vĩnh tường, trước thuộc về Sơn Tây, nay thuộc tỉnh Vĩnh Yên).

Vợ Thi Sách là Trưng Trắc, con gái quan lạc tướng ở huyện Mê Linh (làng Hạ Lôi, Huyện Yên lãng, tỉnh Phúc yên) cùng với em gái là Trưng Nhị nổi lên đem quân về đánh Tô Định. Bọn Tô Định phải chạy trốn về quận Nam Hải. Lúc bấy giờ những quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cũng nổi lên theo về với hai bà. Chẳng bao lâu quân hai bà hạ được 65 thành trì. Hai bà bèn xưng vương, đóng đô ở Mê Linh, là chỗ quê nhà.”

Rồi ông bình luận: “Hai bà họ Trưng làm vua được ba năm, nhưng lấy cái tài trí người đàn bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, ấy cũng là đủ để cái tiếng thơm về muôn đời. Đến ngày nay có nhiều nơi lập đền thờ hai bà để ghi tạc cái danh tiếng của hai người nữ anh hùng nước Việt Nam ta.”

Chính Lịch sử Trung Quốc cũng phải ghi nhận về chiến thắng của Hai Bà tuy vẫn ngạo nghễ gọi người dân Việt là “Nam man“.

Chương 86 trong sách sử Hậu Hán Thư (thế kỷ thứ 5), quyển thứ 5 viết về “Lịch sử miền Nam và Tây Nam man” (Biographies of the Southern and the Southwestern Barbarians), có ghi:

Vào năm Kiến Vũ thứ 16, ở quận Giao Chỉ có hai người phụ nữ tên là Trưng Trắc (Zheng Ce) và Trưng Nhị (Zheng Er) nổi loạn và tấn công thủ đô của thái thú. Trưng Trắc là con gái của lạc tướng ở quận Mê Linh (Miling 麊 泠), kết hôn với một người đàn ông tên là Thi Sách (Shi Suo 詩 索). Người phụ nữ này là một chiến binh hung dữ, bị thái thú Giao Chỉ kỷ luật nên nổi giận và nổi loạn. Các thị trấn man rợ của quận Cửu Chân (Jiuzhen), Nhật Nam (Rinan), và Hợp Phố (Hepu) tất cả đều theo hai bà này và đánh chiếm được sáu mươi lăm thành phố và tuyên bố là Vua..

Tài liệu của Trung Quốc không nói gì tới những tàn ác của quân đội và quan chức Trung Quốc đối với người dân Việt, kể cả việc giết chồng bà Trưng Trắc.

Sau Hai Bà Trưng, Trung Quốc luôn quay lại xâm chiếm nhưng không chiếm hẳn được, trước sau, dù sau mấy trăm năm rồi cũng bị đánh bật ra. Bốn lần Việt Nam bị Bắc thuộc tổng cộng tới hơn một 1000 năm.

Chắc ông Chu đã phản hồi về lịch sử nhà Hán cũng như những triều đại khác, cho nên mới không úp mở khi dùng cả hai chữ “xâm lăng” “bóc lột” để nói về tổ tiên ông.

Vì sao chiếm Hoàng Sa?

Câu hỏi đặt ra là nếu ông đã nói như vậy, tại sao ông lại để cho Trung Quốc tấn chiếm Hoàng Sa năm 1974?

MaoBản quyền hình ảnh GETTY IMAGES
Image caption Trang tuyên truyền của TQ ca ngợi Mao Trạch Đông đặt ra mục tiêu phát triển Hải quân Quân Giải phóng

Để trả lời phần nào câu hỏi này, trước hết ta phải nhớ rằng: quyền lực ở Trung Quốc luôn tập trung vào tay ông Mao cho tới ngày ông chết (9/9/1976).

Ngoài ra, nếu nhìn vào quãng đời cuối cùng của ông Chu thì thấy từ cuối 1972 ông đã lâm bệnh nặng. Theo tác giả Gao Wenqian viết về tiểu sử ông Chu gần đây, thì một nhóm bác sĩ TQ đã chẩn đoán ông mắc bệnh ung thư bàng quang.

Nhóm này báo cáo rằng nếu được điều trị ngay thì ông có cơ hội hồi phục từ 80 đến 90%. Tuy nhiên việc điều trị cho cấp lãnh đạo thì luôn đòi hỏi phải được ông Mao chấp thuận. Thật lạ lùng: chính ông Mao đã cấm chỉ các bác sĩ không được tiết lộ cho cả ông Chu lẫn bà vợ biết tin về chẩn đoán ung thư, cũng như không được chữa bệnh hay chẩn đoán lại. Ông Chu suy yếu thật nhanh và đã qua đời ngày 8/1/1976. Bàn về tại sao ông Mao lại đối xử với người cận thần, có công lao thật lớn với mình như vậy là ra ngoài khuôn khổ giới hạn của bài này.

Ngày nay, ngoài Hoàng Sa và Trường Sa, TQ đang thâu tóm những hải đảo khác ở Biển Đông.

Các quốc gia ‘bị bóc lột‘ đang xích lại thành những liên minh với nhau và với Mỹ, như bình luận của Tướng không quân Mỹ Herbert Carlisle:

Thái độ hung hăng của Trung quốc mang lại nguy cơ là họ đã tính toán sai lầm… một số hành xử hung hăng của họ trong thực tế đã đẩy bạn bè chúng tôi lại gần chúng tôi hơn, họ là những người mong muốn chúng tôi hiện diện ở nơi đây” (Khi Đồng Minh Nhảy Vào, trang 609).

Nếu các quốc gia này không nhận được sự liên kết hữu hiệu của Mỹ để cùng nhau hành động cho kịp thời thì sẽ phải chấp nhận một hậu quả trầm trọng của ‘một sự đã rồi‘, đó là một vạn lũy trường thành trên mặt Thái Bình Dương để bá chủ Á Châu, và từ đó sẽ phóng quyền lực đi thật xa.

Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông và Lâm Bưu trước khi Lâm bị hạ bệBản quyền hình ảnh KEYSTONE/GETTY IMAGES
Image caption Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông và Lâm Bưu trước khi Lâm bị hạ bệ

Trong thư ngày 5/04/1954), Tổng thống Dwight Eisenhower viết cho Thủ tướng Anh Winston Churchill:

Nếu tôi có thể nhắc lại lịch sử, chúng ta đã không ngăn chận Hirohito, Mussolini, Hitler vì đã không cùng hành động chung với nhau, và cho kịp thời. Chính vì thế nên đã dẫn tới một thảm kịch bi đát và một sự nguy hiểm tuyệt vọng trong mấy năm sau. Và như vậy, chúng ta đã học được điều gì chưa trong kinh nghiệm này?”

Vì không ngăn chặn Nhật Hoàng Hirohito nên Nhật Bản đã từng bước bá chủ cả Á Châu.

Để biết xem chính quyền Trump có học được điều gì trong kinh nghiệm này hay không, ta phải chờ đợi tới khi cuộc khủng hoảng chính trị hiện nay tại Washington được hạ nhiệt.

Có dư luận cho rằng để ngăn chặn Trung Quốc, chính quyền Trump (gồm Phó tổng thống Mike Pence – người sẽ kế vị TT Trump trong trường hợp bị bãi nhiệm) đang chuẩn bị đánh “ván bài Nga” (Russian card): liên kết với Moscow để cân bằng với Trung Quốc, ngược lại với “ván bài Trung Quốc” (China card) của TT Nixon, từng dùng Trung Quốc để cân bằng với Liên Xô hồi đó.

Chúng ta hãy chờ xem.

_________________

Đọc thêm:

Tổng thống Thiệu ra lệnh khai hỏa ở Hoàng Sa

  • 7 tháng 3 2017
Henry Kissinger với Phó Tổng thống Nelson Rockerfeller và Tổng thống Gerald Ford năm 1974Bản quyền hình ảnh AFP
Image caption Henry Kissinger với Phó Tổng thống Nelson Rockerfeller và Tổng thống Gerald Ford năm 1974

Người dân chài làm ăn thường là cần cù, lương thiện nhưng khi người lính đội lốt dân chài đi đánh cá thì thật là nguy hiểm, dù đánh cá ở Scarborough, Kinsaku hay Hoàng Sa.

Vào tháng 2 năm 1959 ngư thuyền Trung Quốc đưa người vào đánh cá trên Hoàng Sa. Không biết là dân chài thật hay dân chài giả, Tổng thống Ngô Đình Diệm cho lệnh bắt giữ rồi trục xuất ra ngay.

Bộ Ngoại Giao Mỹ dưới sự lãnh đạo của Ngoại trưởng Foster Dulles không e ngại TQ trả đũa, cũng không ngăn chặn Tổng thống Diệm.

Tới năm 1974, ngư thuyền Trung Quốc lại quay về Hoàng Sa, nhưng lần này có chiến hạm đi theo. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh ‘mời’ những tàu này ra.

Khi chiến hạm cứ tiến vào, Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã khai hỏa. Trận chiến kéo dài một ngày. Lập tức Bộ Ngoại Giao Mỹ dưới sự lãnh đạo của ông Kissinger liền khẩn cấp can ngăn Tổng thống Thiệu hãy ngừng lại, đừng đụng độ với Trung Quốc thêm nữa!

Ý nghĩa của trận Hoàng Sa

Quân đội Mỹ vừa rút đi xong, Trung Quốc đã muốn tìm hiểu xem thực sự Mỹ có can thiệp trở lại hay không, Washington có thay đổi lập trường “ngăn chặn Trung Cộng'” hay không? Đó là lý do dẫn đến biến cố Hoàng Sa ngay đầu năm 1974.

Đây là cảm tưởng chúng tôi có được sau khi hàn huyên với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về biến cố này.

Một buổi chiều mùa Thu năm 1976 tại ngôi nhà bé nhỏ của gia đình ông ở vùng Surrey ngoại ô thành phố Luân Đôn, sau bữa cơm tối tôi ngồi nhâm nhi ly rượu và tâm sự với ông về những diễn biến trước khi sụp đổ.

Khi tôi hỏi ông về trận Hoàng Sa và nhắc lại là đầu năm 1974 ông có chỉ thị cho chúng tôi phải báo cáo cho thật trung thực về tình hình viện trợ, chúng tôi đã trình bày là về tiếp liệu, quân nhu và quân cụ thì chúng tôi không biết rõ, nhưng về ngân sách dành cho Việt Nam thì sắp hết rồi vì Quốc hội Mỹ đang cắt xén rất mạnh tay.

Tôi hỏi ông là tại sao ông biết đã đến lúc cạn kiệt rồi mà vẫn còn chống cự cả Trung Quốc.

Ông không trả lời thẳng nhưng suy nghĩ giây lát rồi lẩm bẩm – chúng tôi không nhớ rõ nguyên văn nhưng đại khái ông nói: “Tôi còn định đi thêm bước nữa,” rồi nhìn tôi và lắc đầu.

Tôi muốn hỏi thêm ‘đi bước nữa là thế nào,’ nhưng thấy ông tỏ vẻ lơ đãng, ưu phiền nên nói lảng sang chuyện khác. Các bạn có thể xem thêm trong cuốn Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 25.

Ngày nay, với những tiết lộ mới đây về mật điện của Bộ Ngoại Giao Mỹ vào chính ngày có hải chiến Hoàng Sa (19/1/1974) và tìm hiểu thêm qua nhân chứng thì chúng tôi đã có thể giải mã về biến cố này.

Phân tích cho kỹ thì thấy ý nghĩa của trận Hoàng Sa thật là sâu xa: về thực tế, là để bảo tồn lãnh thổ, nhưng về mặt nguyên tắc, nó phản ảnh một cố gắng – hoàn toàn ngoài sức mạnh của VNCH – để ngăn chặn Trung Quốc khỏi tràn xuống Biển Đông.

Bối cảnh dẫn tới trận Hoàng Sa

Ngày 22 tháng 6, 1972 trong một buổi mật đàm với Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai ở Bắc Kinh, Cố vấn Mỹ Henry Kissinger đã cho ông Chu biết rằng:

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong lễ khai trương một bệnh viện ở Sài GònBản quyền hình ảnh GETTY IMAGES
Image caption Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong lễ khai trương một bệnh viện ở Sài Gòn

Nếu có một thời gian vừa đủ giữa lúc chúng tôi rút quân và những gì xẩy ra sau đó thì vấn đề gần như chắc chắn rằng có thể khoanh gọn, như chuyện nội bộ của Đông Dương” và “sau khi chúng tôi đã không còn can dự nữa thì …rất ít khả năng chúng tôi sẽ quay trở lại, rất ít khả năng.”

Cuối tháng 3/1975, toàn bộ quân lực Mỹ đã rút khỏi Miền Nam. Sau đó Quốc Hội Mỹ lấy cớ “Miền Nam đã có cả hòa bình lẫn danh dự” để cắt giảm viện trợ thật nhanh.

Như vậy là ván bài Việt Nam đã được khoanh gọn, và tới đầu năm 1974 thì chắc TQ cho rằng “khoảng thời gian vừa đủ” đã chấm dứt: Bắc Kinh muốn trắc nghiệm xem Mỹ có quay trở lại hay không.

Cho nên, ngay đầu năm, Trung Quốc đã lấn chiếm Hoàng Sa.

Dù trong hoàn cảnh nghiệt ngã, Hải quân VNCH vẫn chống trả. Ngày 18 tháng 1, Tổng thống Thiệu bay ra tận Đà Nẵng, lấy giấy ra viết tay thẳng cho Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải.

Trên đầu trang ông viết: ‘Chỉ thị cho Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải‘:

Thứ nhất là tìm đủ mọi cách ôn hòa mời các chiến hạm Trung Cộng ra khỏi lãnh thổ VNCH. Thứ hai, nếu họ không thi hành thì được nổ súng cảnh cáo trước mũi các chiến hạm này và nếu họ ngoan cố thì toàn quyền sử dụng vũ khí để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ VNCH.”

Viết lệnh xong, ông Thiệu cất giọng: “Anh Thoại, đến đây và đọc trước mặt tôi đây, có gì không rõ ràng thì cho tôi biết ngay từ bây giờ.”

Dù bị mất Hoàng Sa và chịu nhiều tổn thất và thương vong, Hải quân VNCH đã gây tổn thất lớn cho đối phương như nhiều nguồn đã đề cập.

Theo ông Thoại thì Hộ tống hạm lớp Kronshtadt 274 của Trung Quốc bị bắn chìm.

Vì tàu này là soái hạm nên hầu hết bộ tham mưu đều tử trận gồm cả Đô đốc Phương Quang Kinh, Tư lệnh Phó của Hạm đội Nam Hải, bốn đại tá, sáu trung tá, hai thiếu tá, bảy sĩ quan cấp úy và một số đoàn viên.

Ngoài ra, Trục lôi hạm số 389 và số 396 bị hư hại nặng.

Dĩ nhiên phải “cẩn tắc” để “vô ưu” nên Trung Quốc đã chuẩn bị cho những bất trắc có thể xảy ra.

Những tiết lộ mới đây cho biết Chủ tịch Mao đã sắp xếp để đưa một lực lượng quân sự lớn lao gồm hơn 40 chiến hạm để làm lá chắn cho Hoàng sa, phòng hờ Đệ Thất Hạm Đội can thiệp.

 

Sau hải chiến, Tổng thống Thiệu ra lệnh cho Không quân oanh kích để phản công

Bây giờ thì chúng tôi lại cũng hiểu rõ về câu Tổng thống Thiệu nói “Tôi còn định đi thêm bước nữa.”

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đón khách
Image caption Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đón đoàn Quốc hội Mỹ, mùa hè 1974. Tác giả Nguyễn Tiến Hưng ngồi ở bìa trái hình.

Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết rằng sau trận hải chiến, Tổng thống Thiệu đã ra lệnh cho Không Quân VNCH bay ra Hoàng Sa oanh kích để phản công, nhưng rồi lệnh được rút lại.

Tại sao như vậy? Ngày nay thì ta đã có chứng cớ và văn bản để trả lời.

Trước hết về lệnh cho Không Quân ra khơi để phản công, chúng tôi phối kiểm với Đại tá Nguyễn Quốc Hưng, (Phụ Tá Tham Mưu Phó Hành Quân, Bộ Tư lệnh Không quân, phụ trách toàn bộ 19 phi đoàn khu trục của VNCH) thì ông đã xác nhận là đúng.

Ông kể lại nhiều chi tiết, tóm tắt như sau: vào 8 giờ tối ngày 19 tháng 1/1974, Tư lệnh Không quân nhận được mật lệnh của Tổng thống phải dùng phản lực cơ chiến đấu siêu thanh F5-E để oanh kích phản công địch trên đảo Hoàng Sa.

Ngày hôm sau đoàn phi công đã cất cánh hai lần để ra khơi, một lần vào buổi trưa và một lần buổi chiều, mỗi lần gồm hai phi tuần.

Nhưng vừa bay được khoảng trên một trăm dặm thì nhận được đặc lệnh phải quay trở về đáp và hủy bỏ ngay các phi vụ không kích này.

Lý do là Đệ Thất Hạm Đội yêu cầu ngừng kế hoạch oanh tạc và nhấn mạnh rằng sẽ không có “top cover” (yểm trợ trong trường hợp bị phi cơ của Trung Quốc từ Hải Nam lên không chiến) và cũng không có “rescue” (cứu vớt nếu bị bắn rơi).

Tàu Hải quân VNCH trong Hải chiến Hoàng Sa 1974
Image caption Tàu Hải quân VNCH trong Hải chiến Hoàng Sa 1974

Trong số những quân nhân tham gia phi vụ không kích này, số nhân chứng còn sống hiện nay thì ngoài ông Quốc Hưng (hiện ở Salem, Oregon) còn có các Thiếu tá Phạm Đình Anh (California), Đàm Tường Vũ (Arizona), Vũ Viết Quý (California), và Hồ Văn Giầu (Las Vegas).

Mật điện Bộ Ngoại Giao Mỹ (19 /1/1974): Can ngăn Tổng thống Thiệu

Một chuyện thật lạ lùng: vào ngày 17 tháng 1/1974 (ngày 18 tháng 1 – giờ Sài Gòn) Bộ Ngoại Giao Mỹ do Ngoại trưởng Henry Kissinger lãnh đạo đã gọi điện thoại cho Đại sứ Martin ở Sàigòn và nhấn mạnh ý muốn của Bộ là “tình hình phải được hạ nhiệt” (cooling the situation).

Tài liệu này được giải mật ngày 30 tháng 6, 2005. Dĩ nhiên là ông Martin phải thi hành ngay và đã cố vấn ông Thiệu. Ngày hôm ấy chính là ngày Tổng thống Thiệu bay ra Đà Nẵng để ra lệnh chống cự Hải quân Trung Quốc.

Cùng ngày, Đề đốc Lâm Ngươn Tánh, Tư lệnh phó Hải quân VNCH bay ra Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải tại Đà Nẵng để chỉ huy lực lượng tham chiến tại Hoàng Sa. Ngày 19 tháng 1 là ngày có trận hải chiến, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lại gửi mật điện can ngăn Tổng thống Thiệu đừng đi thêm bước nữa.

Bức điện đó như sau:

Ngày 19 tháng 1/1974

Người gửi: Ngoại Trưởng – Washington DC

Nơi nhận: Tòa Đại sứ Sài Gòn

Mật điện Bộ Ngoại Giao 012641

1. Xung đột quân sự tại Hoàng Sa đã đưa đến thương vong cho VNCH với hai chiến hạm bị tên lửa STYX của Trung Quốc bắn chìm. Chính phủ VNCH có yêu cầu Mỹ giúp tìm kiếm và cứu vớt các nạn nhân. Tình hình thêm phức tạp vì báo cáo là trên đảo Pattle (do VNCH đóng quân) lại có một nhân viên dân sự Mỹ làm việc cho Văn phòng Tùy viên ở Đà Nẵng. Chúng tôi không hiểu tại sao người này lại có mặt ở đó.

2. Bộ Ngoại Giao đã yêu cầu Bộ Quốc Phòng ra lệnh cho Hải quân Hoa Kỳ tránh khỏi khu vực này .

Hai ngày trước đây (17 tháng 1) chúng tôi có bàn luận với Đại sứ Martin qua điện thoại và bày tỏ ý muốn của chúng tôi là tình hình phải được hạ nhiệt…

3. Thông cáo của Bộ Ngoại Giao gửi cho báo chí về vụ này sẽ nói theo những điểm như sau:

— Chính phủ Hoa Kỳ không đứng về phe nào trong việc tranh chấp Hoàng Sa nhưng hết sức mong muốn là sự tranh chấp được giải quyết trong hòa bình.

— Lực lượng quân sự Mỹ không dính líu gì vào xung đột này.

4. Chúng tôi đang yêu cầu Tòa Đại sứ ở Sàigòn cố vấn chính phủ VNCH chỉ nên có những hành động tối thiểu để tự vệ và để cứu vớt nạn nhân (và người nhân viên Mỹ ở trên đảo) nhưng làm tất cả những gì có thể để tránh đụng độ trực tiếp thêm nữa với lực lượng Trung Quốc. Việc mà VNCH hay chúng ta không cần chút nào trong lúc này là đụng độ giữa Trung Quốc và Chính phủ Việt Nam về mấy hòn đảo, dẫn tới vai trò bất chấp của Trung Quốc trong cuộc chiến Việt Nam.

KHẨN – MẬT

Về phản ứng của Mỹ và mật điện ngày 19 tháng 1, 1974, ta có thể nhận xét như sau:

Vừa biết tin rục rịch là TT Thiệu đang sửa soạn ra lệnh chống trả chiến hạm Trung Quốc là Bộ Ngoại Giao đã can ngăn ngay.

  • Chính phủ VNCH yêu cầu Mỹ giúp tìm kiếm và cứu vớt các nạn nhân (ngoài số tử thương còn 68 binh sĩ VNCH bị mất tích và bắt làm tù binh) nhưng bị từ chối.
  • Đã không yểm trợ chiến đấu, đã ra lệnh cho Hải quân Hoa Kỳ tránh né khỏi khu vực giao tranh, lại còn tuyên bố cho rõ ràng là “Chính phủ Mỹ không đứng về phe nào trong việc tranh chấp Hoàng Sa” và xác định (cho Bắc Kinh biết) là “Lực lượng quân sự Mỹ không dính líu gì vào vụ xung đột này.”
  • Không đứng về phe nào thì tại sao lại khuyên can chính phủ VNCH “hãy hạ nhiệt,” chỉ hành động tối thiểu để tự vệ và để cứu vớt nạn nhân thôi, nhưng làm bất cứ những gì để tránh đụng độ thêm nữa với lực lượng Trung Quốc về mấy hòn đảo? Ông Kissinger đã quên rằng chính ông đã từng soạn thảo lá thư để TT Nixon gửi TT Thiệu ngay trước khi ký kết Hiệp Định Paris nói đến lập trường vẹn toàn lãnh thổ của VNCH: “Nền tự do và độc lập của VNCH vẫn còn là mục tiêu tối cao của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ” (thư ngày 17 tháng 1, 1973).
  • Như vậy là một cửa vào Biển Đông đã bắt đầu được mở rộng. Trước đó, từ 1960 tới 1973, Trung Quốc chỉ cho tầu đi tuần tiễu vùng biển giữa quần đảo Hải Nam và Hoàng Sa trung bình khoảng năm lần một năm.

Qua eo biển Đài Loan

Trước Hoàng Sa, Mỹ đã mở một cửa nữa vào Biển Đông, đó là qua eo biển Đài Loan ở phía trên. Sau khi ông Mao Trạch Đông chiếm được Trung Hoa Lục Địa vào tháng 10/1949, Hoa Kỳ nhất quyết bảo vệ độc lập của Đài Loan hay nước ‘Trung Hoa Dân Quốc.’

Bởi vậy mỗi lần Bắc Kinh đe dọa eo biển Đài Loan như vào năm 1954-1955 và 1958 thì Mỹ phản ứng rất mạnh (xem Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 28). Nhưng từ 1971 thì khác.

Ngày 29 tháng 7/1971: Kissinger bí mật đi Bắc Kinh và trong dịp này đã cho Trung Quốc biết là Mỹ không còn ủng hộ một Đài Loan độc lập nữa, có nghĩa là Đài Loan sẽ chỉ là một khu vực của Trung Quốc, và như vậy Mỹ sẽ hết bảo vệ khu này và sẽ rút hạm đội và phi đội ra khỏi nơi đây.

Tháng 8/1971: sau cuộc họp, Mỹ tuyên bố hủy bỏ việc chống Trung Quốc gia nhập Liên Hiệp Quốc. Tháng 10, Liên hiệp Quốc bỏ phiếu 76 thuận, 35 chống (và 17 không bỏ phiếu) việc đẩy Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và chấp nhận chính quyền Bắc Kinh là chính phủ đại diện Trung Quốc.

Tháng 10/1971: Mỹ rút khu trục hạm của Đệ Thất Hạm Đội ra khỏi eo biển Đài Loan.

Tháng 2/ 1972: TT Nixon thăm viếng Bắc Kinh. Sau cuộc họp Nixon – Mao tại Bắc Kinh, một thông cáo chung gọi là ‘Thông Cáo Thượng Hải’ (Shanghai Communique) được tuyên bố, gián tiếp quy định “Việc Mỹ rút toàn bộ khỏi Đài Loan là mục tiêu cuối cùng,” và sẽ “từng bước giảm cả quân đội, cả những căn cứ Mỹ tại Đài Loan khi sự căng thẳng trong vùng bớt đi.”

Trấn an Trung Quốc sau khi Miền Nam sụp đổ

Khu trục hạm Trường Sa (phải) của TQ về cảng Tam Á trên đảo Hải Nam sau chuyến diễn tập tháng 2-3/2017Bản quyền hình ảnh XINHUA
Image caption Khu trục hạm Trường Sa (phải) của TQ về cảng Tam Á trên đảo Hải Nam sau chuyến diễn tập tháng 2-3/2017

Ngày 1 tháng 12 năm 1975: ông Henry Kissinger đã sắp xếp để người kế vị Tổng thống Richard Nixon là Tổng thống Gerald Ford đi Bắc Kinh năm ngày và gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông.

Trước chuyến đi, ông Kissinger đã cố vấn Tổng thống Ford thật kỹ: “Ngài sẽ cố gắng hết sức để tăng cường giây liên lạc với Trung Quốc. Ngài (nên cho họ biết rằng) Ngài tin việc phát triển mối bang giao Mỹ – Trung là quyền lợi căn bản của chúng ta và Ngài sẽ theo đuổi việc này một cách mạnh mẽ trong những năm tới.”

Ngày 7 tháng 12/1975: Vừa từ Bắc Kinh về, TT Ford tuyên bố ‘Học thuyết Thái Bình Dương’ (Pacific Doctrine) kêu gọi bình thường hóa toàn diện quan hệ với Trung Quốc và cộng tác kinh tế trong toàn thể Á Châu.

Dĩ nhiên, điều kiện để bình thường hóa toàn diện với Trung Quốc là việc Mỹ rút khỏi eo biển Đài Loan.

Cuối tháng 5 năm 1975: chỉ một tháng sau khi Miền nam sụp đổ, Hoa Kỳ đã rút đội phi cơ chiến đấu cuối cùng ra khỏi Đài Loan. Có nghĩa là từ đó những hạm đội Đông Hải của TQ từ phía bắc có thể theo con đường nhanh nhất tràn xuống phía Nam.

Và từ phía nam những hạm đội Nam Hải có thể tiến thẳng vào Biển Đông qua ngả Hoàng Sa.

Tương lai của vùng này trở nên đen tối. Trung Quốc chỉ cần mua thời gian để chuẩn bị, chờ cho tới khi có đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa để ra tay: ba yếu tố này đã hội đủ vào năm 2008 (Các bạn xem thêm cuốn Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 26).

Như vậy lịch sử sẽ phải ghi nhận rằng chính hai ông Nixon và Kissinger đã đơn phương và trong vòng bí mật, mở cả hai cửa vào Biển Đông cho Trung Quốc từ trên 40 năm trước đây.

Hậu quả của mật điện Hoàng Sa ngày 19/1/1974 thật là lớn lao, nó dẫn đến tình trạng hỗn loạn tại Biển Đông ngày nay. Để mất Hoàng Sa và còn nhắn nhủ Trung Quốc rằng Mỹ không có dính líu gì vào tranh chấp hải đảo, rằng quân lực Mỹ đã được lệnh rút ra khỏi vùng này.

Như vậy là Trung Quốc được tự do tung hoành. Từ tung hoành tới lộng hành. Cái kẹt là sau khi lộng hành với các quốc gia sở tại, Trung Quốc lộng hành với chính Mỹ. Cho nên Mỹ phải xoay trục để trở về với Biển Đông, nơi đó có tới bảy quyền lợi của Mỹ như đã được xác định bằng văn bản (Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 26).

Trung Quốc lại là đối tác ngoại thương lớn nhất – tổng số xuất-nhập Trung-Mỹ lên tới $579 tỷ vào năm 2016. Mặt khác Mỹ phải cố gắng để thắt cho thật chặt quan hệ ngoại giao với các quốc gia trong vùng, nhất là với Việt Nam.

Chiến hạm USS John S. McCain thăm Đà Nẵng năm 2010: Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á và Việt NamBản quyền hình ảnh AFP
Image caption Chiến hạm USS John S. McCain thăm Đà Nẵng năm 2010: Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á và Việt Nam

Tại sao như vậy? Đó là một chủ đề chúng tôi sẽ đề cập trong một bài khác.

Bây giờ, muốn trở về với Biển Đông Mỹ đi hàng đôi: một mặt thì tỏ ra mềm dẻo với Trung Quốc nhưng mặt khác lại luôn luôn chuẩn bị để đối phó bằng quân sự với Trung Quốc, dù dưới thời Tổng thống Obama hay Tổng thống Trump.

Để đối phó, Mỹ đang tăng cường liên minh quân sự với một số quốc gia trong vùng, kể cả tiến tới đối tác chiến lược với Việt Nam. Tại sao như vậy? Đó là một chủ đề chúng tôi sẽ đề cập trong một bài khác.

***

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng. Sinh năm 1935 ở Thanh Hóa, tác giả từng giữ chức Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975 ở Sài Gòn. Ông là tác giả cuốn ‘Khi Đồng minh Tháo chạy’ và là đồng tác giả cuốn The Palace Files- Hồ sơ Dinh Độc Lập, viết cùng Jerrold L. Schecter bằng tiếng Anh. Hiện ông định cư tại Virginia, Hoa Kỳ.

Xem tiếp

hai sư thầy bolero

Hai sư thầy “triệu view” trên Youtube đi thi hát Bolero

Vụ hai nhà sư đi thi hát gây ồn ào dư luận: Nhà sản xuất ...

4 Các bình luận

  1. Excellent article. I am going through some of these issues as well..

  2. Hi there, yeah this article is in fact nice and
    I have learned lot of things from it concerning blogging.
    thanks.

  3. Aw, this was an extremely good post. Spending some time and actual effort to produce a really good article… but what can I say… I put
    things off a lot and never seem to get anything done.

  4. Ahaa, its fastidious conversation on the topic of this post at this place at this website, I have read all
    that, so at this time me also commenting at this place.

Bình Luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *