Báo hay cho người bận rộn

Chuyện ít biết của Trần Quốc Tuấn qua ‘Đông A di sự’

0

Lá số thánh nhân bất bại và đội quân tinh nhuệ Ngũ Yên

Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất, Trần Quốc Tuấn chỉ là một tướng trẻ, chưa thể trực tiếp cầm quân chỉ huy, và những người có công lớn nhất chính là tướng Lê Tần và Thái sư Trần Thủ Độ. Tuy nhiên, những ghi chép trong cuốn “Đông A di sự” lại cho thấy một việc hoàn toàn khác. Cuốn sách này không chỉ hé lộ về nội tình của nhà Trần mà còn trả lại năm sinh cho Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, điều từng gây tranh cãi trong giới những người yêu thích tử vi ở Việt Nam.

Đông A di sự” là một cuốn sách cổ do Trần Triều Bình Chương Quốc Sư, Băng Hồ Tướng Công Trần Nguyên Đán chắp bút. Cuốn sách cổ này là một tư liệu quý, do chính người trong dòng tộc nhà Trần ghi chép lại từng chi tiết về các sự kiện của triều đại nhà Trần. Chính vì thế, nó là nguồn sử liệu lý giải cho những diễn biến quan trọng của nhà Trần từ góc nhìn của những người trong cuộc.

Trần Quốc Tuấn
Không chỉ trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần hai và ba, mà ngay từ lần thứ nhất Trần Quốc Tuấn đã có công lao lớn nhất trong chiến thắng của Đại Việt.

Theo “Đông A di sự”, người có công lớn nhất trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất, không ai khác, chính là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Dù không được trực tiếp cầm quân, nhưng mọi tính toán chiến lược, đường đi nước bước đều do chính Trần Quốc Tuấn đề ra kế hoạch. Nhưng trước tiên, để hiểu được tại sao những sự việc này không được ghi chép lại trong chính sử, chúng ta phải nhìn lại bối cảnh của người anh hùng Trần Quốc Tuấn.

Câu chuyện mối hiềm khích trong nhà Trần

Trong lịch sử triều đại nhà Trần vào giai đoạn đầu, người nắm thực quyền không phải là vua, mà là thái sư Trần Thủ Độ, người đã ép Lý Chiêu Hoàng mới 7 tuổi phải nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh mới 8 tuổi, từ đó lập ra nhà Trần. Quyền lực thực chất nằm trong tay Trần Thủ Độ cho đến khi ông mất vào năm 1264.

Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu là Trần Thái Tông, phong Lý Chiêu Hoàng là Chiêu Thánh hoàng hậu. Năm 15 tuổi, hoàng hậu sinh hoàng tử Trần Trịnh nhưng không may Trần Trịnh chết yểu. Sau đó hoàng hậu không thể mang thai lại được nữa.

Năm 1237, vua Trần Thái Tông mãi vẫn chưa có con, điều này khiến nhiều tôn thất nhà Trần lo lắng hậu vận nhà Trần không có người nối dõi. Lúc này anh ruột của Trần Thái Tông là Trần Liễu có vợ là bà Thuận Thiên đang có thai 3 tháng. Trần Thủ Độ liền ép bà Thuận Thiên phải làm vợ của vua Trần Thái Tông, tức ép vua phải lấy chị dâu đang mang thai. Sự việc này khiến nhà vua và anh mình là Trần Liễu đều phản đối kịch liệt không tuân thủ theo.

Nửa đêm Trần Thái Tông cùng hai cận thần trốn nên núi Yên Tử, gặp Quốc sư Phù Vân là bạn của mình, ngỏ ý muốn nương nhờ cửa Phật. Quốc sư trả lời rằng: “Trên núi không có Phật, mà Phật ở ngay trong tâm ta”.

Lúc này Trần Thủ Độ dẫn quân tìm vua và cuối cùng gặp được nhà vua trên núi Yên Tử. Thấy nhà vua nhất quyết không chịu trở về cung, Trần Thủ Độ nói rằng: “Xa giá ở đâu tức là triều đình ở đó”, rồi ra lệnh xây ngay cung điện trên núi Yên Tử. Quốc sư Phù Vân phải khuyên vua trở lại kinh thành và Trần Thái Tông đành đồng ý.

Trần Liễu uất ức vì bị mất vợ, nhân lúc Trần Thủ Độ dẫn quân đi tìm vua liền đem quân của mình đến đánh chiếm kinh thành. Thế nhưng Trần Thủ Độ vốn có rất nhiều kinh nghiệm, nên khi dẫn quân đi tìm vua đã đề phòng có biến, dặn dò sắp đặt trước mọi việc cho các tướng lĩnh giữ thành. Vì thế quân Trần Liễu chưa kịp tới kinh thành thì đã bị bao vây.

Không đủ sức chống lại quân triều đình, Trần Liễu bỏ chạy. Biết rằng khó thoát tội chết, lại nghĩ rằng bây giờ chỉ có em mình là vua Trần Thái Tông mới cứu được mình, liền hẹn vua ở sông Cái, rồi đem thân đầu hàng. Tới khi gặp Trần Thủ Độ, Trần Thái Tông đem thân mình che chở bảo vệ cho anh khiến Trần Thủ Độ không làm gì được.

Trần Quốc Tuấn
Trần Liễu hẹn em mình là vua Trần Thái Tông ở sông Cái để đầu hàng. (Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)

Trần Thủ Độ tức lắm ném gươm xuống sông và nói: “Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các người thuận nghịch thế nào?”.

Trần Liễu được tha nhưng quân tướng đi theo ông thì bị xử tội chết hết cả. Thân tín của ông là Trần Hiến đem toàn quân của phủ An Sinh Vương tiến đánh phủ Thái sư Trần Thủ Độ cũng thất bại. Hai vợ chồng Trần Hiến cùng toàn bộ binh tướng của An Sinh Vương Trần Liễu đều bị xử chém.

Đội quân tinh nhuệ bậc nhất lịch sử cùng lời trăn trối

Chỉ một mình An Sinh Vương Trần Liễu thoát chết, còn tất cả những ai theo ông đều chết cả, vì thế ông rất yêu thương con cái của những thuộc tướng trung thành với mình. Ông đưa con trai và con gái của Trần Hiến là Trần Tử Đức và Trần Ý Ninh về Ngũ Yên nuôi nấng, yêu thương chăm sóc như con đẻ, con cái của những người khác cũng được ông xem như người một nhà.

Nhận thấy cuộc binh biến của mình thất bại phần lớn là do quân không tinh nhuệ bằng cấm quân của triều đình và quân của Trần Thủ Độ, nên Trần Liễu đã tìm những người giỏi võ công nhất truyền lại cho con cái những người từng theo mình, lập thành một đội gia binh, nhưng thực chất là đội quân thiện chiến, đặt tên là Ngũ Yên. Ông đặc biệt chú ý tới những đứa trẻ con cái của những thuộc tướng trung thành đã vì mình mà mất.

Với ý định phục thù, Trần Liễu đã xây dựng đội quân Ngũ Yên ngày càng hùng mạnh, hầu hết đều được học võ từ tấm bé đến tận khi trưởng thành, võ công nhiều người đều ở mức thượng thừa.

Trần Quốc Tuấn
Đội quân Ngũ Yên nhiều người được dạy võ từ nhỏ đến lớn nên rất tinh nhuệ. (Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)

Trần Liễu từ sớm cũng cho con trai của mình là Trần Quốc Tuấn đến kinh thành Thăng Long ăn học ở nhà em gái là Thụy Bà công chúa, tìm thầy giỏi về dạy học cho Trần Quốc Tuấn. Ngay từ thời trẻ, Trần Quốc Tuấn đã giỏi võ và thông thạo binh pháp. Trần Liễu hy vọng rằng Trần Quốc Tuấn có trong tay đội quân tinh nhuệ Ngũ Yên sẽ phục thù được cho mình.

Theo một số ghi chép trong sử Việt, thì chưa có một đội quân nào được tinh nhuệ như quân Ngũ Yên. Chỉ huy đội quân này là Trần Tử Đức cùng em gái là Trấn Y Ninh và vợ là Bùi Thiệu Hoa cùng các tướng lĩnh khác. Họ đều là những tướng vô cùng thiện chiến, cũng là những dũng tướng đóng góp cực lớn cho cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất.

Năm 1251 An Sinh Vương Trần Liễu qua đời, đã trăn trối với Trần Quốc Tuấn rằng: “Con không vì cha mà lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.”

Những tranh cãi về vị trí Tiết chế – Tổng chỉ huy quân đội

Khi quân Mông Cổ chiếm được Đại Lý, chuẩn bị đưa quân tiến đánh Đại Việt, thì triều đình nhà Trần cũng sôi động bàn kế chuẩn bị đối đầu với đội quân hiếu chiến bậc nhất này. Nhiều tướng quân đề xuất với vua Trấn Thái Tông cần phải có một người giữ chức Tiết chế, để chỉ huy toàn quân đối phó với giặc, mà chức Tiết chế hiện chưa có ai đảm nhiệm.

Qua các phiên thiết triều, các tướng đều thấy rằng vị trí Tiết chế này chỉ có Trần Quốc Tuấn là người xứng đáng đảm đương nhất, vì thế nhiều tướng đề cử Trần Quốc Tuấn vào vị trí này. Tuy nhiên người nắm giữ quân đội và cũng là người có thực quyền lớn nhất trong triều là thái sư Trần Thủ Độ đã không đồng ý.

Trần Thủ Độ lo lắng rằng Trần Quốc Tuấn thực hiện lời trăn trối của cha, nếu nay giữ chức Tiết chế binh mã thì sẽ nhân cơ hội cướp ngôi vua, vì thế mà ông ta cùng các tùy tướng không đồng ý.

Cuối cùng, trong một phiên thiết triều, trước yêu cầu của tướng lĩnh, vua Trần Thái Tông đã phải đồng ý phong Trần Quốc Tuấn làm Tiết chế. Tuy nhiên vua chỉ tuyên bố, nhưng chưa ban chiếu chỉ cũng như kiếm báu Tiết chế.

Trần Quốc Tuấn
Tượng Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn ở Nam Định. (Ảnh: Ditichlichsuvanhoa)

Bên cạnh đó, bởi vì trong lịch sử không hề có ghi nhận Trần Quốc Tuấn chỉ huy bất kỳ một trận đánh nào trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất, nên các nghiên cứu lịch sử cho rằng vào cuộc chiến này, Trần Quốc Tuấn còn là tướng trẻ, chỉ tham gia cuộc chiến chứ không trực tiếp cầm quân.

Thực ra, Trần Quốc Tuấn đúng là đã lĩnh chức Tiết chế. Đại Việt Sử Ký Toàn thư chỉ có một chi tiết ghi chép rằng: “Tháng 9 (năm 1257), xuống chiếu, lệnh tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới, theo sự tiết chế của Quốc Tuấn”.

Lúc đầu, quả thật chức Tiết chế chỉ là trang trí cho đẹp

Tại sao lúc đó Trần Quốc Tuấn vẫn nhận được chức Tiết chế trong khi không có thực quyền? Đó không chỉ là để đối phó với sự yêu cầu của tướng lĩnh. Trong cuốn “Đông A di sự” có ghi chép câu chuyện về Vũ Thành Vương đã tiết lộ điều này.

Trước khi bà Thuận Thiên bị ép gả cho vua Trần Thái Tông, thì đã có người con với Trần Liễu là Trần Doãn, sau được phong là Vũ Thành Vương, là em cùng cha khác mẹ với Trần Quốc Tuấn.

Năm 1248, Thuận Thiên hoàng hậu mất. Năm 1251, Trần Liễu cũng qua đời. Cảm thấy không còn cha mẹ nương tựa và thất thế, Vũ Thành Vương đem gia tộc hơn 1.000 người trốn sang nước Tống, nhưng bị người Tống bắt đem trả lại cho Đại Việt.

Nhà vua hỏi Vũ Thành Vương rằng:

– Người là con của Hiển Từ thái hậu sinh ra, tước phong tới vương, được trong đãi, thế sao lại bỏ nươc trốn đi?

– Bỏ nước, bỏ mồ mả tổ tiên, bỏ quê hương, bỏ người thân, lưu lạc xứ người, hỏi mấy ai muốn? Từ khi phụ vương băng, anh em thần gạt bỏ hết những thù hận từ tiên vương, để trung thành, bảo vệ vương triều. Nhưng anh em thần vẫn bị nghi ngờ. Từ xưa đến giờ, phàm vua nghi ngờ bầy tôi thì có hai việc xảy ra. Một là bầy tôi sẽ bị giết, hoặc bầy tôi làm loạn để tự tồn. Thần không đủ can đảm phản bệ hạ, nên phải trốn đi.

– Ta nghi ngờ người? Người bịa đặt ra như vậy sao?

– Bệ hạ thử đặt mình vào hoàn cảnh anh em thần thì thấy ngay. Buổi thiết đại triều trước đây đã nghị trao cho Hưng Đạo Vương làm Tiết chế quân mã. Thế nhưng từ hồi ấy đến giờ chiếu chỉ vẫn chưa ban ra. Bệ hạ phong cho Hưng Đạo Vương lĩnh Tiết chế. Cái danh Tiết chế chỉ để trang trí cho đẹp. Quyền của Tiết chế ra sao? Bốn hạm đội, hiệu Kỵ binh, hiệu Ngưu binh, ba hiệu bộ binh của Ngũ Yên sẵn sàng cho triều đình sử dụng. Còn quân của triều đình thì vẫn có Phụ quốc thái úy chỉ huy. Trên Phụ quốc thái úy còn Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sứ. Thì ra Hưng Đạo Vương lĩnh chức Tiết chế để đem lực lượng Ngũ Yên trao cho triều đình.

Vương khẳng khái nói lớn:

– Triều Lý đã có Kiến Hải Vương Lý Dương Côn chạy sang Cao Ly; Lạng Châu Công Lý Long Phi chạy sang Mông Cổ; Phò mã Thủ Huy, công chúa Đoan Nghi chạy sang Mông Cổ; gần đây Kiến Bình Vương Lý Long Tường cũng ra đi. Tất cả những vị đó đều bị oan khuất, các người không muốn chống lại triều đình, muốn ẩn thân cho toàn tính mạng, mà thấy không yên… Nên phải xuất ngoại. Nay thêm thần, thì cũng là sự thường.

Trần Thủ Độ muốn xử tội, nhưng vua Trần Thái Tông tìm cách tha cho Vũ Thành Vương. Từ câu đối đáp của Vũ Thành Vương cho thấy rằng triều đình phong cho Trần Quốc Tuấn làm Tiết chế được lợi lớn vì tiếp quản và sử dụng đội quân tinh nhuệ Ngũ Yên, nhưng người nắm trong tay toàn quân đội nhà Trần vẫn là Thái sư Trần Thủ Độ, chức Tiết chế của Trần Quốc Tuấn chỉ là “trang trí cho đẹp”. Và vua Trần Thái Tông vẫn chưa ban chiếu chỉ hay trao kiếm báu Tiết chế.

Lúc đầu, chức Tiết chế đúng là chỉ để trang trí cho đẹp. Nhưng những sự việc diễn ra sau đó mới là điều không được ghi chép lại trong chính sử

Trí Thức VN

____________________

Đọc thêm:

Người phụ nữ giúp Trần Quốc Tuấn giữ chức “Quốc Công Tiết Chế” đánh bại quân Nguyên Mông

Theo lịch sử ghi lại thì cha của Trần Quốc Tuấn là An Sinh Vương Trần Liễu mang theo mối hận với vua, trước khi chết đã trăn trối với con rằng: “Con không vì cha mà lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”

Điều này Vua và Hoàng thân quốc thích nhà Trần đều biết rõ, nhưng vì sao nhà Vua vẫn quyết định phong cho Trần Quốc Tuấn làm Quốc Công Tiết Chế – Tổng chỉ huy quân đội đánh quân Nguyên Mông? Điều này không thấy trả lời rõ trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư”, nhưng được nói rõ trong cuốn “Đông A di sự” của Trần Triều Bình Chương Quốc Sư, Băng Hồ Tướng Công Trần Nguyên Đán. “Đông A di sự” là một bộ sử được coi là đúng nhất nói về các chuyện trong hoàng cung nhà Trần, vì nó do những người trong hoàng cung ghi chép lại.

Câu chuyện mối hiềm khích trong nhà Trần

Trong lịch sử triều đại nhà Trần vào giai đoạn đầu, người nắm thực quyền không phải là Vua, mà là Thái Sư Trần Thủ Độ, người có công lớn nhất đối với nhà Trần khi ép nữ hoàng Lý Chiêu Hoàng mới 7 tuổi phải nhường ngôi cho chồng mình là Trần Cảnh mới 8 tuổi, từ đó lập ra nhà Trần. Quyền lực thực chất nằm trong tay Trần Thủ Độ cho đến khi ông mất vào năm 1264.

Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu là Trần Thái Tông, phong hoàng hậu Lý Chiêu Hoàng là Chiêu Thánh hoàng hậu, năm 15 tuổi sinh hoàng tử Trần Trịnh nhưng không may chết yểu, sau đó hoàng hậu Chiêu Thánh không thể mang thai lại được nữa.

Ly kỳ người phụ nữ giúp Trần Quốc Tuấn giữ chức “Quốc Công Tiết Chế” đánh bại quân Nguyên Mông
Cảnh trong phim “Thái sư Trần Thủ Độ”

Năm 1237 vua Trần Thái Tông mãi vẫn chưa có con, điều này khiến nhiều tôn thất nhà Trần lo lắng hậu vận nhà Trần không có người nối dõi. Lúc này anh ruột của Vua Trần Thái Tông là Trần Liễu có vợ là bà Thuận Thiên đang có thai 3 tháng.

Trần Thủ Độ liền ép bà Thuận Thiên phải làm vợ của vua Trần Thái Tông, tức ép Vua phải lấy chị dâu đang mang thai. Sự việc này khiến nhà Vua và anh mình là Trần Liễu đều phản đối kịch liệt không tuân thủ theo.

Nửa đêm nhà Vua cùng hai cận thần trốn nên núi Yên Tử, gặp Quốc Sư Phù Vân là bạn của mình ngỏ ý muốn nương nhờ cửa Phật, Quốc Sư trả lời rằng: “Trên núi không có Phật, mà Phật ở ngay trong tâm ta”.

Lúc này Trần Thủ Độ dẫn quân tìm Vua và cuối cùng gặp được nhà Vua trên núi Yên Tử, nhà Vua nhất quyết không chịu trở về cung. Trần Thủ Đội nói rằng: “Xa giá ở đâu tức là triều đình ở đó”, rồi ra lệnh xây ngay cung điện trên núi nơi Vua ở.

Sợ mất sự yên tĩnh nơi tu hành trên núi Yên Tử, Quốc sư Phù Vân khuyên vua trở lại kinh thành và nhờ vậy, vua Trần Thái Tông cùng mọi người quay trở lại hoàng cung.

Trần Liễu uất ức vì bị mất vợ, nhân lúc Trần Thủ Độ dẫn quân đi tìm vua liền đem quân của mình đến đánh chiếm kinh thành. Thế nhưng Trần Thủ Độ khi dẫn quân đi tìm Vua đã đề phòng có biến, nên dặn dò sắp đặt trước mọi việc cho các tướng lĩnh giữ thành. Vì thế quân Trần Liễu chưa kịp tới kinh thành thì đã bị bao vây.

Không đủ sức chống lại quân Triều Đình, Trần Liễu bỏ chạy, biết rằng khó thoát tội chết, lại nghĩ rằng bây giờ chỉ có em mình là vua Trần Thái Tông mới cứu được mình, liền hẹn vua ở sông Cái, rồi Trần Liễu đem thân đầu hàng trước Vua. Tới khi gặp Trần Thủ Độ, nhà Vua đem thân mình che chở bảo vệ cho anh mình khiến cho Trần Thủ Độ không làm gì được.

Trần Thủ Độ tức lắm ném gươm xuống sông và nói: “Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các người thuận nghịch thế nào?”.

Trần Liễu được tha nhưng quân tướng đi theo ông thì bị xử tội chết hết cả. Sau sự việc này anh em Trần Liễu và Trần Cảnh đã xóa hiềm khích. Tuy nhiên Trần Liễu vẫn dấu mối hận trong lòng, nhất là vợ mình là Thuận Thiên khi trở thành vợ vua ngoài sinh được Trần Quốc Khang còn sinh ra Trần Hoảng (sau này là vua Trần Thánh Tông), Trần Quang Khải, Trần Nhật Vĩnh, Trần Ích Tắc.

Trần Liễu có đứa con thứ ba là Trần Quốc Tuấn rất khôi ngô tuấn tú, Trần Liễu hy vọng đứa con này sau này có thể rửa mối hận cho mình, vì thế ông từ sớm đã đưa Quốc Tuấn đến thành Thanh Long ăn học ở nhà em gái mình là Thụy Bà công chúa, tìm thầy giỏi về dạy học cho Quốc Tuấn, nhờ đó ngay từ thời trẻ Trần Quốc Tuấn đã giỏi võ và thông thạo binh pháp.

Trước khi qua đời Trần Liễu trăn trối với Trần Quốc Tuấn rằng: “Con không vì cha mà lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.”

Trước khi 50 vạn đại quân Nguyên Mông sang xâm lược đại Việt lần thứ 2, rất nhiều binh lính và tôn thất nhà Trần dao động, không biết nên đánh hay hòa. Nhưng lúc này vua Trần lại quyết định trao chức vụ quan trọng Quốc Công Tiết chế (tức tổng chỉ huy quân đội) cho Trần Quốc Tuấn. Vì đâu vua Trần có được niềm tin này?

Ly kỳ chuyện người đã giúp Trần Quốc Tuấn giữ chức “Quốc Công Tiết Chế” đánh bại quân Nguyên Mông
Trần Quốc Tuấn (Tranh minh họa)

Việc trao binh quyền cho Trần Quốc Tuấn bắt đầu từ câu chuyện dưới đây:

Câu chuyện đánh cuộc tử vi nổi tiếng nhà Trần

Nước Tống có một vị quan đậu đến tiến sĩ, rất thông tỏ thiên văn, tử vi là Hoàng Bính, khi quân Nguyên Mông sang đánh Tống, ông hiểu rằng nhà Tống đã hết thời, tử vi nhiều quốc thích dòng tộc nhà Tống rất xấu, lại chết cùng năm. Nhìn về phương nam thấy nơi ấy sáng tỏ tất có thể cư ngụ.

Tháng giêng năm 1257, Hoàng Bính đưa toàn bộ gia tộc khoảng 2.000 người đến Đại Việt xin được lập nghiệp. Vua Thái Tông được tin liền cho đưa về kinh. Cảm nhận thấy vua cùng các đại thần vẫn còn nghi ngại về mình. Hoàng Bính lấy tay chỉ lên trời mà rằng: “Trời Nam… linh khí ngùn ngụt, thánh nhân giáng trần, cầm gươm đuổi ác quỷ, đó là nơi có thể an thân. Vì vậy thần mới đem tông tộc sang xin bệ hạ cho núp bóng hoàng long”.

Lại nói Hoàng Bính có cô con gái út mới 16 tuổi tên là Hoàng Chu Linh hết sức tài giỏi, thông hiểu tử vi, học một hiểu mười. Trở về kinh thành, được biết Hoàng Bính rất giỏi tử vi, nhiều người muốn ông xem, nhưng Hoàng Bính lại để con gái của mình là Chu Linh xem cho mọi người.

Chu Linh xem cho mọi người đều vô cùng chuẩn xác, khiến ai cũng khâm phục. Lúc này Thái Sư Trần Thủ Độ mới tìm cách thử tài Chu Linh, câu chuyện này được ghi chép trong Đông A Di Sự.

Ly kỳ chuyện người đã giúp Trần Quốc Tuấn giữ chức “Quốc Công Tiết Chế” đánh bại quân Nguyên Mông
Chu Linh (Ảnh minh họa)

Nhà Vua chỉ vào Trần Thủ Độ nói: “Hoàng cô nương! Đây là lão Vũ Thủy. Lão vốn cùng quê với quả nhân. Vì lão có tài trồng hoa, nên quả nhân trao cho lão coi vườn Thượng uyển. Xin cô nương coi dùm xem lão còn sống được mấy năm nữa!”

Rồi lão Vũ Thủy (tức Trần Thủ Độ) cho biết mình sinh vào giờ Tỵ, ngày 6 tháng 6, tuổi giáp dần.

Sau khi bấm tay, Chu Linh nói: “À! Lão tiên sinh đùa tiểu nữ đây! Đến đấng chí tôn cũng thử tiểu nữ nữa”. Nàng nói bằng giọng nũng nịu, khiến cử tọa đều rung động.

Chu Linh đoán: “Cứ như tướng tiên sinh: Dáng đi như con diều hâu rình mồi, mắt hổ, đầu lân, tay vượn… Thì e tiên sinh chỉ ngồi dưới một người, mà trên vạn vạn người. Còn số Tử vi, để tiểu nữ tính xem.”

Lúc này Hoàng Bính mới xen vào câu chuyện cùng Trần Thủ Độ đánh cuộc, nếu Chu Linh đoán đúng hết thân thế sự nghiệp thì Trần Thủ Độ phải thực hiện 3 yêu cầu của Chu Linh; còn ngược lại đoán không đúng thì Hoàng Bính cùng toàn bộ gia tộc trở về tộc.

Triều đình giật mình, vì không ngờ Hoàng Bính dám đánh cuộc lớn quá như vậy. Nhà Vua định bảo Thủ Độ bỏ cuộc, nhưng Trần Thủ Độ đồng ý đánh cuộc. 

Sau một lúc bấm ngón tay, Chu Linh nói:

“Mệnh của tiên sinh lập tại Dần, Tử, Phủ thủ mệnh. Tử vi, Thiên phủ đều là đế tinh. Vì vậy tiên sinh thuộc loại mệnh cực lớn. Tiên sinh sinh ra đúng thời, là người tạo ra thời thế. Tất cả thăng trầm của Đại Việt trong vòng 50 năm qua, đều do một tay tiên sinh nắn bóp thành voi, thành hổ, tùy ý.

Tiên sinh tuổi Dần, mệnh lập tại Dần, thì trong người có đến hai ông kễnh thủ mệnh, lại thêm sao Thiên hình phù trì. Tử vi kinh nói: Hình hổ cư Dần, hổ đới kiếm hùng, tương phùng đế cách, ư Giáp Kỷ nhân, uy vũ trấn động. Nghĩa là: Người có Thiên hình, với Bạch hổ, hay tuổi Dần, là cách hổ đeo kiếm hùng. Người tuổi Giáp, tuổi Kỷ, uy vũ trấn động. Có điều tiên sinh được Lộc tồn thủ mệnh, Hóa lộc cư quan, là cách song lộc, thì là người chuyên quyền.

Thiên hình miếu địa ở mệnh, thì dù tiên sinh chịu ơn ai một bát cơm, sau sẽ trả bằng một kho thóc. Bị ai mắng một câu, sau này tiên sinh sẽ tru di tam tộc nhà người ta.

Cung thê của tiên sinh có Phá quân, ngộ Hóa quyền, Thai, lại bị Kiếp, Không chiếu thì duyên tình của tiên sinh rối như mớ bòng bong. Cho đến giờ này cũng chưa xong, còn chạy như ngựa nhong nhong.

Năm trên mười tuổi, tiên sinh gặp một người. Rồi hai người thề non, hẹn biển, định cuộc trăm năm, không cần mai mối, cũng chẳng thỉnh mệnh cha mẹ. Mà dù cha mẹ có cản trở, tiên sinh cũng không nghe nào!

Hai người xa nhau. Nàng tuân lệnh cha mẹ lấy chồng. Tiên sinh hóa điên, hóa khùng, nhưng nhất quyết trung thành với nàng. Vì vậy khi chồng nàng qua đời, tiên sinh với nàng nối lại tình xưa. À, có một điều tiểu nữ nói tiên sinh đừng giận. Kể về uy quyền, thì tiên sinh thuộc loại vương bất vi vương, bá bất vi bá, nhi quyền khuynh thiên hạ.Nghĩa rằng tiên sinh chẳng là vua, cũng chẳng là bá, mà quyền nghiêng thiên hạ. Thế nhưng, bất cứ một người ở địa vị cao sang cũng năm thế bẩy thiếp. Riêng tiên sinh thì chỉ biết có một phu nhân mà thôi!

Cung quan của tiên sinh có Liêm trinh, Thiên tướng, thì tiên sinh là người võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Danh tiếng bốn bể. Nhưng tiếc rằng cung quan ngộ Thiên không, nên tiên sinh hành sự bất chấp luật pháp, chẳng kể đạo lý. Có lúc tiên sinh thành người nửa chính, nửa tà, nửa ma, nửa quỷ. Tiểu nữ e muôn nghìn năm sau còn bị dị nghị. Nhưng… dù ai dị nghị, thì chỉ dị nghị về cá nhân tiên sinh. Còn đối với đất nước, quả thật công nghiệp cũng như tấm lòng của tiên sinh sáng như trăng rằm, không ai chê trách được.”

Lúc này Hoàng Bính hỏi Thủ Độ: “Thưa tiên sinh, xét số tiên sinh, thì tiên sinh chính là Thái sư Trần Thủ Độ”.

Nhà vua tuyên chỉ: “Thái sư thua Hoàng cô nương rồi. Vậy Thái sư phải làm cho cô nương ba điều đi thôi.”

Chu Linh nói điều ước thứ nhất của mình là mong toàn thể gia đình được ở Đại Việt, 2 điều ước còn lại sẽ nói sau.

Lúc này Hoàng Bính mới quỳ trước Vua và nói rằng: Chuyến về Thăng long này, mục đích của ông là dâng con gái cho nhà vua, để tỏ lòng trung với Trần triều. Lập tức nhà vua ban chế phong Hoàng Chu Linh là Huệ Túc phu nhân.

Người phụ nữ củng cố tinh thần kháng Nguyên và giúp Trần Quốc Tuấn đảm nhiệm Quốc Công Tiết Chế

Năm 1285 khi 50 vạn quân Nguyên Mông chuẩn bị tiến đánh Đại Việt, nhiều người lo lắng, một số tôn thất bàn nên hàng giặc như Trần Nhật Hạo, Trần Di Ái.

Huệ Túc Phu Nhân lúc này thấy lá số của nhiều tôn thất trong Hoàng tộc đều rất vẻ vang, nhiều người là anh hùng, bèn khuyên nhà Vua nên quyết tâm chống giặc.

Bà cũng thấy rõ Trần Quốc Tuấn là anh hùng dân tộc, sự nghiệp và tên tuổi của ông sẽ lưu lại thiên thu, nên dù cho mâu thuẫn gia tộc bà cũng khuyên nhà vua nên giao chức Quốc Công Tiết Chế cho Trần Quốc Tuấn.

Huệ Túc Phu Nhân tâu với Vua rằng: “Thiếp xem Tử Vi cho các thiếu niên trong Hoàng Tộc thấy họ đều là các vị anh hùng xã tắc mai sau. Sự nghiệp của Quang Khải, Quốc Tuấn mai sau rực rỡ vô cùng. Số của Quốc Tuấn là số của một vị anh hùng, là bậc thánh nhân chắc không có việc tạo phản đâu. Trong số các vị thái tử, thiếp chỉ lo có số của Trần Ích Tắc, tuy thông minh, nhưng sau này hình khắc lục thân, trôi nổi…”

Ly kỳ chuyện người đã giúp Trần Quốc Tuấn giữ chức “Quốc Công Tiết Chế” đánh bại quân Nguyên Mông
Trần Ích Tắc (Tranh minh họa)

Huệ Túc Phu Nhân cũng thấy rõ lá số của Trần Quốc Tuấn là người thông tuệ, tấm lòng sáng tỏ như đôi vầng nhật nguyệt, tuyệt đối không thể làm phản nên hết lòng tiến cử Quốc Tuấn, và nhà Vua đã tin tưởng nghe theo lời bà mặc cho có lời bàn tán.

Nhờ đó, Trần Quốc Tuấn được cất nhắc làm Tiết Chế, tổng chỉ huy quân đội ngay từ lần chống quân Mông Cổ lần thứ nhất. Vào cuộc chiến chống quân Mông Cổ lần thứ 2. Khi 50 vạn quân Nguyên tiến sang, phía nam Toa Đô dẫn 20 vạn quân đánh ngược lên, người giữ thành Nghệ An là Trần Kiện cùng toàn bộ gia quyến đã đưa toàn quân đầu hàng giặc. Quân giặc từ hai hướng Bắc Nam như hai gọng kìm siết chặt, Đại Việt rối bời.

Lúc này nhiều người nói với Trần Quốc Tuấn rằng đây là cơ hội tốt nhất để trả thù cho cha. Thế nhưng Trần Quốc Tuấn bỏ ngoài tai hết, kể cả những lời nhắc nhở của con trai và người thân khác về thù nhà. Ông dốc lòng đem tài thao lược của mình với kế sách “vườn không nhà trống”, “dùng đoản binh phá trường trận”, từng bước lấy lại thế trận đánh bại 50 vạn đại quân Nguyên Mông, giữ vững giang sơn xã tắc nước Đại Việt.

Nếu như không có lời tiến cử của Huệ Túc Phu Nhân, không có lòng trung trinh của Trần Quốc Tuấn, thì có lẽ lịch sử Đại Việt đã thay đổi.

Trí Thức VN

Có thể bạn sẽ thích

Bình Luận

Your email address will not be published.