Báo hay cho người bận rộn

Chuyện Kinh Thánh (Kỳ 4): Bí ẩn con tàu Noah và trận đại hồng thủy nhấn chìm loài người

0

Chuyện Kinh Thánh (Kỳ 4): Bí ẩn con tàu Noah và trận đại hồng thủy nhấn chìm loài người

Chuyện Kinh Thánh là tác phẩm văn học nổi tiếng của nữ văn hào Pearl Buck – người đã từng đạt giải Nobel Văn Chương năm 1938 và giải thưởng báo chí Pulitzer năm 1931. Từ tác phẩm Kinh Thánh, bà đã chọn lọc, sắp xếp các câu chuyện theo trình tự thời gian, rồi thổi hồn vào đó, chấm phá những nét khóc cười của nhân vật để khiến truyện gần gũi mà vẫn tôn trọng nguyên tác.Chuyện Kinh Thánh mô tả cuộc hành trình về với đức tin nguồn cội của dân Do Thái, cũng là của cả loài người. Là nhịp cầu tâm linh nối tâm hồn con người với Đấng Cao Cả. Tác phẩm được đánh giá rất cao từ giới chuyên môn cũng như người đọc phổ thông, cả trong và ngoài đạo Thiên Chúa.

Vì lấy cảm hứng từ Kinh Thánh – cuốn sách ẩn chứa nhiều huyền cơ và những hàm nghĩa uyên thâm – nên tác phẩm của Pearl Buck cũng mang trong mình nhiều giá trị lớn lao. Đại Kỷ Nguyên xin giới thiệu tiểu mục dài kỳ Chuyện Kinh Thánh bao gồm các câu chuyện trong nguyên tác. Cũng trong loạt bài viết này, người viết mạn phép chia sẻ những hiểu biết và thể ngộ nông cạn của bản thân, rất mong được bạn đọc gần xa góp ý và thảo luận.

Kỳ 4: Noah và lụt hồng thủy

Sau khi mất hai đứa con đầu, Adam và Eva tiếp tục sống rất lâu vì khi thế giới mới được tạo dựng, người ta sống thọ hàng trăm năm. Tâm hồn cả hai u sầu vì các con trai đã bỏ họ mà đi theo cách thê thảm như thế, nhưng họ không để cho mình bị khổ não đánh gục. Theo thời gian, họ có thêm nhiều con cái, trong số đó kẻ đầu tiên là một cậu bé rất giống Abel. Họ gọi cậu là Seth. Khi tới tuổi thành niên, Seth kết hôn và lập nên một dòng tộc truyền đời qua nhiều thế kỷ, rồi sản sinh ra kẻ đã cứu thế giới thoát khỏi sự trừng phạt của Chúa.

Cuối cùng, lúc Adam và Eva qua đời, tám trăm năm sau ngày sinh ra Seth, thì gia đình của họ đã gia tăng thành một tộc đông người. Đất đai nơi họ sống và làm việc cực nhọc nay không còn hoang vu cô quạnh mà là đất sinh sôi, đông đúc các con, các cháu, các chắt chút chít của họ, những kẻ lớn lên và rồi có con cháu của riêng mình. Thế giới đó chắc phải là một thế giới tốt lành và tuyệt diệu.

Nhưng hình như trên mặt đất này càng đông người thì càng nhiều độc ác sa đọa. Trong số những người đang sống chỉ có một ít người đạt được thiện cảm trong mắt Thiên Chúa vì tình yêu thương của họ dành cho cái tốt lành và cái chính đáng. Những người ít ỏi này thuộc dòng dõi của Seth. Một trong những người đó là Enos. Ông cùng đi dạo và chuyện trò với Thiên Chúa như Adam đã làm thuở còn ở trong vườn Địa Đàng. Một con cháu khác của Enos tên là Methuselah, kẻ sống thọ hơn bất cứ kẻ nào trên thế gian, sinh rất nhiều con trai và con gái trong cuộc đời dài chín trăm sáu mươi chín năm trần gian của ông. Trong số các con trai của ông có Lamech, người sẽ có một cậu con trai chứng tỏ là bậc xuất chúng nhất trong số các hậu duệ của Seth. Cậu con trai đó tên là Noah.

Loài người lúc đó sinh sôi nảy nở trên mặt đất, làm lụng, vui chơi, có gia đình và không còn nhớ gì đến Chúa của mình. Thiên Chúa nhìn xuống và thấy có ít người như Noah làm việc siêng năng ngoài đồng áng và cư xử ngay lành với đồng loại; và ngài thấy có nhiều người, thí dụ hậu duệ của Cain, đang trở nên giàu có trong các thành phố của họ và tôn thờ những cái do chính tay họ làm ra. Hiếm có người đàn ông hoặc đàn bà nào có chút lòng nghĩ tới Thiên Chúa, đấng đã tạo dựng họ. Người ta dường như đã quên cách sống ngay lành với nhau, và họ lại càng không yêu thương Chúa của mình. Họ đã ra quá đỗi vô tâm vô trí tới độ không còn biết cái gì là chính đáng; hoặc hình như họ không cần biết.

Phải làm điều gì đó, Thiên Chúa đưa lời cảnh cáo: “Thần khí của ta sẽ không lưu tồn mãi mãi nơi loài người. Nếu chúng không vượt qua được sự sa đọa hoặc độc dữ này thì tuổi đời của chúng sẽ không hơn một trăm hai mươi năm”.

Nhưng hình như người ta không nghe ngài nói. Họ không để ý tới lời cảnh cáo của Chúa. Thay vì thay đổi sống tốt lành hơn, họ lại ra tệ hơn. Và Thiên Chúa thấy thế giới đầy rẫy độc ác và sai trái. Con người không chỉ đồi bại trong hành động mà còn bại hoại trong ý nghĩ và tâm hồn triền miên cái ác.

Thiên Chúa thấy thế giới đầy rẫy độc ác và sai trái. Con người không chỉ đồi bại trong hành động mà còn bại hoại trong ý nghĩ và tâm hồn triền miên cái ác. (Ảnh: Pinterest.com)

Thiên Chúa đau lòng trước những gì ngài thấy. Ngài tiếc mình đã an bài cho con người ở thế giới này. Trong buồn phiền, ngài nói: “Ta sẽ xóa sạch con người mà ta tạo dựng khỏi mặt đất. Không chỉ loài người thôi mà còn hết thảy thú vật, côn trùng và chim trời, vì ta hối tiếc đã làm ra chúng”.

Nhưng ngay cả trong những ngày ấy vẫn còn có một người đạt được ơn sủng trong mắt của Chúa, người đó là Noah. Giống như ông cố của mình là Enos và tổ tông của mình là Adam, Noah là người cùng đi dạo và chuyện trò với Thiên Chúa. Giữa một thế giới hoàn toàn sa đọa, ông một mình sống ngay lành và giữ cho cả nhà đi theo đường lối của Thiên Chúa. Ông có ba con trai, Shem, Ham, và Japheth, cả ba người con đều sống ngay lành.

Thiên Chúa nói với Noah: “Đã tới lúc kết liễu hoàn toàn sự bạo động và sự độc dữ này. Ta sẽ hủy diệt hết thảy mọi sinh vật và cùng với chúng là toàn bộ thế giới. Nhưng ngươi, Noah, ngươi phải làm một chiếc tàu gỗ bách. Ngươi sẽ ngăn tàu ấy thành buồng rồi lấy dầu hắc trám cả trong lẫn ngoài để nước không thể lọt vào. Tàu đó có ba tầng: Tầng trệt, tầng thứ hai và tầng thứ ba, và nó phải cao mười bốn thước. Chiều dài một trăm ba mươi bảy thước. Chiều rộng hai mươi ba thước”.

Noah lắng nghe Thiên Chúa nói với mình và lấy làm kinh ngạc. Ông chưa từng đóng tàu thuyền vì ông sống xa bờ biển và không bao giờ cần tới thứ đó. Chắc chắn ông chưa bao giờ tưởng tượng có ngày mình sẽ đóng một chiếc tàu với kích cỡ to lớn như vậy. Nhưng Thiên Chúa dạy ông cách làm thế nào đóng nó. Tàu sẽ được đóng rất vững chắc với khung sườn bằng gỗ cứng cáp, có một cái mui kênh cao lên để nước không tràn lên boong tàu và một bên mạn tàu có cửa sổ và một cửa lớn độc nhất để ra vào. Khi làm xong, nó giống như một nhà bè khổng lồ. Nhưng để làm gì?

Ngay sau đó có câu trả lời. Chúa nói: “Sẽ có một trận lụt hồng thủy khắp cõi đất và mọi sinh linh dưới gầm trời sẽ bị hủy diệt. Nhưng với ngươi, Noah, ta lập lời hứa. Khi ngươi đóng tàu xong thì hãy đi vào trong tàu, ngươi và vợ ngươi, ba người con trai của ngươi và gia đình của chúng. Ta thấy ngươi là người ngay lành và ta sẽ cứu ngươi. Còn về tất cả các sinh vật đang sống, trừ loài người ra, ngươi hãy mang vào trong tàu mỗi loài một cặp để giữ cho chúng sống sót cùng ngươi. Một cặp gồm một con đực và một con cái. Về mọi loài chim trên trời và mọi loài thú vật hết sức cần thiết cho con người, như cừu và gia súc, ngươi sẽ đem vào trong tàu mỗi loài bảy cặp, để chúng đều sinh sản trở lại, đầy chất lượng, trên mặt đất khi nước lụt rút hết. Và ngươi hãy gom đủ loại lương thực, cất chúng trên tàu để cung cấp cho ngươi, cho hết thảy các thú vật và các loài bò sát ở chung với ngươi trên tàu.”

Noah cảm thấy đây là một việc lạ lùng mà mình phải làm nhưng ông tuân lệnh vì ông tin vào Thiên Chúa. Phải mất công sức trong thời gian lâu để đóng tàu, thâu tóm loài vật, tom góp và dự trữ lương thực, và việc đó không dễ làm trước sự chế giễu của hàng xóm. Ông cảnh giác họ về trận lụt hồng thủy sắp tới, van nài họ sám hối và cứu lấy bản thân nhưng họ lớn tiếng cười nhạo ông và chiếc tàu khổng lồ của ông vì nơi ông ở rất xa biển, và họ không tin rằng họ sẽ gặp nguy cơ xuất phát từ Thiên Chúa. Họ không thể tin như vậy vì họ không tin vào Thiên Chúa. Và họ không tưởng tượng ra được một trận lụt tệ hại tới nỗi hủy diệt mọi thứ họ đang có, kể cả mạng sống của chính họ. Do đó họ tiếp tục cười nhạo và tiếp tục lối sống độc dữ của mình.

Nhưng Noah vẫn tiếp tục đóng tàu trong khi con cái của ông thu thập loài vật và lương thực.

Noah vẫn tiếp tục đóng tàu trong khi con cái của ông thu thập loài vật và lương thực (Tranh vẽ của một họa sĩ người Pháp năm 1675)

Ngày giờ đã tới.

Khi Thiên Chúa bảo ông lên tàu, Chúa nói: “Trong bảy ngày nữa, ta sẽ làm cho mưa xuống đất. Trời sẽ mưa suốt bốn mươi ngày và bốn mươi đêm. Hãy mang thú vật, từng cặp một lên tàu và cả gia đình ngươi nữa. Bất cứ sinh vật nào không ở trên tàu sẽ bị xóa sạch khỏi mặt đất”.

Noah lên tàu với các con trai và vợ mình cùng với vợ của các con trai mình. Từng cặp một, các loài chim và thú vật và các loài côn trùng, con đực và con cái, đi theo gia đình con người đó mà lên tàu. Rồi Noah đóng cửa và chờ đợi.

Từng cặp một đi theo gia đình Noah mà lên tàu (Tranh vẽ của Edward Hicks)

Ông không phải chờ lâu. Bảy ngày sau lời cảnh cáo cuối cùng của thiên chúa, nước lụt tràn đầy mặt đất. Lúc đó là vào năm thứ sáu trăm của cuộc đời Noah, ngày hai mươi bảy tháng hai. Các mạch nước ngầm vĩ đại bật tung và các cửa sổ trên trời mở toang.

Nước từ trời tuôn xuống. Từ những chỗ đất ngập, người ta chạy vào nhà tránh lụt, và rồi không thoát khỏi nước, người ta bỏ chạy lên đồi núi. Không có chỗ nào trốn thoát được. Các dòng sông dâng nước lên cao quá bờ và chảy tràn lan mặt đất. Các ao hồ lớn họp nhau lại thành những ao hồ lớn hơn nữa, và mực nước từ từ tăng lên cao dần. Chiếc tàu nổi vững vàng trên mặt nước đang dâng cao, và mưa quất lên cái mui tàu trét bằng dầu hắc. Bên trong, ông Noah ngay lành cùng cả nhà an toàn và khô ráo; cùng với họ là các cặp thú vật mọi loài. Chỉ có họ và các thú vật đó nổi bồng bềnh trên nước lụt hồng thủy. Dù bị cắt đứt hoàn toàn với mặt đất, họ vẫn có bên mình đủ lương thực để nếu cần thì dùng trong nhiều tháng.

Trời mưa suốt bốn mươi ngày và bốn mươi đêm.

Bên ngoài con tàu, những dòng suối nhỏ thành những dòng sông chảy xiết. Những dòng sông thành những bức vách bằng nước biến đất đai ra thành một hồ nước mênh mông, lấm chấm những đảo nhỏ từng có thời là cao nguyên. Nước mưa hợp với nước biển cuốn phăng các bờ biển và các thung lũng. Các ngọn đồi khuất chìm dưới nước đang tràn lên. Nước dâng càng ngày càng cao, phủ ngập các đồi cao và ngập luôn cả những đỉnh núi cao nhất dưới gầm trời. Không còn nơi nào để chạy cho tới khi thoát chết. Hết thảy mọi người và tất cả thú vật, tất cả chim trời và tất cả côn trùng, đều bị cơn lụt hồng thủy quét sạch cho tới khi trên thế giới chẳng còn lại gì ngoại trừ một chiếc khăn phủ bằng nước và một chiếc tàu gỗ độc nhất bềnh bồng trên nước sâu.

Và rồi dứt mưa. Tới cuối bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, Thiên Chúa nhớ đến Noah và mọi sinh vật ở với ông trong con tàu. Và Thiên Chúa cho gió thổi khắp mặt đất để làm nước yên lặng. Ngài khiến các mạch nước ngưng lại và các cửa sổ của bầu trời đóng lại và ngài giữ nước mưa ở lại trên trời. Các biển lớn phủ ngập mặt đất bắt đầu dần dần rút xuống. Trong hơn sáu tháng, con tàu tiếp tục bập bềnh trên mặt biển thinh lặng, cái sống động độc nhất trên toàn thế giới. Chầm chậm, từ ngày này sang ngày khác trong suốt một trăm năm mươi ngày, nước rút hết. Vào ngày mười bảy của tháng thứ bảy tính từ ngày trời bắt đầu mưa, con tàu đậu lại trên núi non xứ Ararat vùng Mesopotamia. Tới ngày đầu tiên của tháng thứ mười, từ con tàu nhìn ra có thể thấy các đỉnh núi xa xa.

Vào lúc chấm dứt bốn mươi ngày và nước đang rút, Noah mở cửa sổ tàu, thả ra một con quạ và quan sát thấy nó bay lòng vòng trong bầu trời quạnh quẽ. Nó là sinh vật độc nhất lúc đó sống bên ngoài con tàu dù nó đã thăm dò và không thấy có vùng đất khô ráo nào. Noah cũng thả một con bồ câu vì biết rằng hễ có chỗ nào đất khô thì bồ câu sẽ nhẹ nhàng đáp xuống. Nhưng, không giống như con quạ, bồ câu bay trở về, Noah đưa tay ra và đem nó vào tàu lại. Bảy ngày sau, ông lại thả bồ câu ra lần nữa. Lần này nó bay trở về vào lúc buổi tối, miệng ngậm một chiếc lá ô-liu non tươi. Như vậy Noah hiểu rằng nước đã rút khỏi mặt đất đủ để có thể sống được, và rằng ở đâu đó, cây cối đang sống đã vươn ngọn lên khỏi hồ nước mênh mông. Tuy vậy, ông chờ thêm bảy ngày, rồi thả con bồ câu đó ra lần nữa. Nó hoàn toàn không bay trở về.

Noah thả bồ câu ra khỏi tàu (Tranh từ thế kỷ 12-13)

Và vào ngày đầu tiên của tháng thứ nhất năm sáu trăm lẻ mốt trong cuộc đời của Noah, mặt đất không còn nước lụt. Noah giở mui tàu, ngó ra một thế giới tuy đầy hứa hẹn nhưng rất lạ lùng. Mặt đất đã khô ráo nhưng ông không còn ở trong xứ sở của mình nữa. Thiên Chúa lại ngỏ lời với ông, ngài nói rằng: “Hãy ra khỏi tàu, mang theo vợ ngươi, các con trai và vợ của các con trai ngươi và hết thảy chim chóc, thú vật và côn trùng, và thả chúng trở lại trên đất để chúng sinh sôi nảy nở nhung nhúc đầy mặt đất”.

Vậy Noah mở ra cái cửa lớn của tàu mà một năm trước đây, đoàn thủy thủ kỳ dị của ông đã từng đàn từng lũ đi vào; rồi mỗi loài, từng đôi một, đi theo Noah và gia đình ông bước ra, lên đất khô ráo tuyệt vời. Cuối cùng, thế giới lại sống động.

Noah lập tức xây một tế đàn để cảm tạ Thiên Chúa (Tranh vẽ của họa sĩ Daniel Maclise)

Trên mặt đất hoàn toàn khô ráo, Noah lập tức xây một tế đàn để cảm tạ Thiên Chúa, biểu lộ lòng biết ơn vì được cứu thoát. Trên những tảng đá không đẽo gọt đó, ông thiêu các lễ vật lên Thiên Chúa, đấng yêu thương ông, và dâng lời cảm tạ về những hy vọng trong thế giới.

Thiên Chúa ngửi hương thơm dịu ngọt của các lễ vật Noah dâng và bằng lòng với những gì đang có trong tâm hồn của con người ngay lành này, và ngài thề nguyện trong lòng rằng ngài sẽ không bao giờ thêm lần nữa nguyền rủa đất đai để trừng phạt loài người và hủy diệt mọi sự sống trên đất. Ngài hứa hẹn: “Bao lâu đất còn tồn tại thì sẽ không ngưng mùa gieo và mùa gặt, lạnh và nóng, mùa hè và mùa đông, ngày và đêm”. Rồi Thiên Chúa chúc lành cho Noah và các con trai của ông, và nói với họ: “Đất là của các ngươi. Hãy sinh sôi nảy nở, hãy có nhiều con cháu và hãy nên dãy đầy trên đất”. Ngài ban cho họ đất và những gì sống động trên đất.

Kế đó ngài lập ra một vòng cung lớn với các màu sắc yêu kiều uốn cong trên bầu trời. “Đây là dấu hiệu cho lời giao ước giữa chúng ta”, ngài tuyên bố. “Ta lập giao ước với các ngươi, với tất cả những sinh vật các ngươi mang theo mình, và với con cái mọi thời của các ngươi. Ta đặt cầu vồng của ta trên bầu trời như một nhắc nhở lời giao ước của ta với mọi sinh linh trên đất. Khi thấy nó, các ngươi sẽ nhớ điều ta nói với các ngươi và sẽ biết rằng ta đang nhớ. Và đây là lời thề mãi mãi: Nước sẽ không bao giờ còn hóa ra lụt quét sạch mọi sinh linh. Sẽ không bao giờ có nữa một trận lụt hồng thủy tiêu hủy con người khỏi mặt đất”.

Đại Kỷ Nguyên

_______________

Đọc thêm:

Con tàu huyền thoại Noah được tìm thấy như thế nào?

Khi con tàu Noah huyền thoại được tìm thấy tại vùng núi Ararat, Thổ Nhĩ Kỳ, cả thế giới ngỡ ngàng…
Trận Đại Hồng thủy được mô tả trong các truyền thuyết của nhiều nền văn hóa khác nhau. Từ Hi Lạp cho đến Ấn Độ, Cu Ba, Brazil, các nước Quốc Đảo – gần như trong tất cả các nền văn minh cổ đại ở dạng này hay dạng khác đều có những truyền thuyết về Đại Họa, nói về Noah, Hoa, Noa, Nu Ya,… Một sự kiện lịch sử, qua nhiều đời kể đi kể lại, sẽ biến thành truyền thuyết. Ngày nay, người ta nghe những câu chuyện về Đại Hồng Thủy, Con tàu Noah như nghe một câu chuyện cổ tích thú vị mà không nghĩ rằng nó thật sự tồn tại.

Cho đến khi con tàu Noah được tìm thấy tại núi Ararat – Thổ Nhĩ Kỳ, cả thế giới ngỡ ngàng…

Con tàu Noah vượt Đại Hồng thủy trong quá khứ có nhiều người không tin là sự kiện lịch sử có thật. Ảnh: CV Art and Frame

Những bằng chứng chứng tỏ rằng Ararat là nơi dừng chân cuối cùng của con tàu Noah có rất nhiều. Beros, nhà sử học người Chaldea, khoảng năm 280 Tr. CN đã nói về “con tàu đỗ tại Armenia”. Ông cũng kể rằng cư dân ở vùng này đã dùng những mảnh của con tàu lớn làm bùa hộ mệnh. Jozeph Flavy, nhà sử học người Do Thái thế kỷ I khẳng định trong một tác phẩm của mình rằng “một vài mảnh của con tàu vẫn còn có thể tìm thấy hiện nay tại Armenia”.

Cũng trong thế kỷ thứ I, nhà sử học Nicolai Damaskin đã nhắc đến núi Ararat, nhưng dưới cái tên Baris: “Ở Armenia có một ngọn núi lớn tên là Baris, trên đỉnh núi của nó có một con tàu bị mắc cạn từ thời Đại Hồng thủy”.

Núi Ararat, Thổ Nhĩ Kỳ. Ảnh: Getty Image.

Trước khi tới thăm ngọn núi này vào năm 1316, giáo sĩ Odorique người Fransiscan đã viết: “Những người dân địa phương kể cho chúng tôi rằng, không có ai có thể lên được ngọn núi ấy, bởi Đức Tối Cao không muốn điều đó”. Bốn mươi năm sau, ngày John Mandeville, khi quan sát ngọn núi này và thử tính độ cao của nó, đã viết: “Trên đỉnh núi đến tận bây giờ vẫn còn con tàu Noah, và trong những ngày thời tiết tốt, người ta có thể nhìn thấy nó từ xa. Nó phải cao ít nhất là 7 dặm”.

Vào đầu thế kỷ XVII, Adam Oelschlager, nhà thám hiểm, nhà văn người Đức đã nhắc đến núi Ararat trong tác phẩm “Những chuyến thám hiểm và du ngoại của các sứ thần” của mình: “Những người Armenia và dân vùng núi tin rằng, trên ngọn núi này đến giờ vẫn còn những mảnh của con tàu, do thời gian đã bị cứng lại như đá”.

Năm 1840 dưới danh nghĩa nghiên cứu hậu quả trận động đất đã phá hủy toàn bộ làng Ahor và cả nhà thờ, chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đã tiến hành một chuyến thám hiểm. Những công nhân người Kurd được thuê để dọn đá dăm và rác đã phát hiện thấy những mảnh gỗ lạ hình như là của một chiếc tàu lớn. Không lẽ đó chính là những mảnh vụn của con tàu Noah?

Hình dạng con tàu được chụp qua máy bay (Ảnh: tinhhoa.net)

Những chuyến “thám hiểm chính thức” đầu tiên lên đỉnh Ararat mà chúng ta biến đến, được tiến hành vào tháng 10 ăm 1929. Đứng đầu là Friedrich Parrot, một người Đức, giáo sư triết học thuộc trường Tổng hợp Derp, hiện nay là Tartu, Estonia). Trong những ngày trước cuộc leo núi, Friedrich Parrot đã được cha xứ của nhà thờ nhỏ trên sườn núi cho xem bức tranh thánh vẽ trên mảnh gỗ làm từ những mẩu của con tàu Noah.

Vào năm 1916, trong thời gian băng tan. Hai phi công Nga bay dọc theo biên giới Armenia từ phía Đông Bắc và nhìn thấy trên sườn núi Ararat một cái hồ gần như đóng băng hoàn toàn. Khi bay lại gần, hai phi công này thấy một vật giống với thân của một con tàu lớn gần chìm hẳn dưới hồ. Con tàu bị mắc cứng trong lớp băng, trên bong tàu có thể thấy hai cột buồn ngắn và chiếc cầu con nằm ngang. Thông báo này được chuyển tới Sant – Peterburg và nhà vua đã ra lệnh cử hai đội kỹ sư tới Ararat để nghiên cứu. Khoảng hai tháng sau Đoàn thám hiểm tới nơi và bắt tay vào nhiệm vụ. Đó đúng là một con tàu có kích thước khổng lồ với hàng trăm khoang hành khách và rất nhiều gian phòng có trần cao hơn bình thường. Họ đã chụp ảnh, đo đạc con tàu và lập báo cáo gửi Nga hoàng. Nhưng giao thông giữa Ararat và Sant – Peterburg bị gián đoạn nên Nicolai Đệ Nhị đã không nhận được bản báo cáo.

Một bức ảnh về con tàu Noah nằm trên đỉnh núi phủ đầy tuyết (Ảnh: tinhhoa.net)

Và sự tồn tại của con tàu một lần nữa lại bị gác lại bởi những biến động của lịch sử cho đến khi sự tồn tại của con tàu Noah dần dần được khẳng định nhờ các công nghệ hiện đại và sự hiện diện của CIA.

Năm 1943, trong thế chiến II, giữa Mỹ và Liên Xô có tồn tại một cầu hàng không để cung cấp vũ khí, đạn dược giữa căn cứ Mỹ ở Tunisse và căn cứ Liên Xô ở Erevan. Trong thời gian diễn ra hoạt động nói trên, hai phi công Mỹ khi bay qua Ararat đã phát hiện thấy ở sườn núi vó một vật giống như con tàu lớn. Tò mò bởi cảnh tượng lạ lùng, trong chuyến đi sau đó, họ bay gần hơn và có thợ ảnh của căn cứ đi cùng. Một vài trong số những bức ảnh này đã được đằng trên tờ tạp chí Châu Âu “Fields và Stars”.

Những năm 1950 – 1970 các cơ quan tình báo của Mỹ hoạt động rất tích cực tại vùng Ararat. Máy bay do thám loại Y – 2 và CP – 71 đã tiến hành hàng trăm chuyến bay để không bỏ sót bất cứ hoạt động khả nghi nào của quân đội Xô Viết, và núi Ararat là một trong những điểm “nóng” nằm trong tầm ngắm của cơ quan này.

Mùa Xuân năm 1960, các phi công của phi đội 428 thuộc lực lượng tác chiến của Không lực Hoa Kỳ có căn cứ tại Adan (Thổ Nhĩ kỳ) cũng nhìn thấy và chụp một vật giống với hình một chiếc tàu lớn trên sườn núi ở Ararat. Những bức này này được lưu vào hồ sơ lưu trữ của CIA đã thu thập trong thời “chiến tranh lạnh” và ngày nay bắt đầu được công bố.

Con tàu nằm trên cao nguyên tây bắc của núi Ararat (vị trí: 39°42′10″bắc,44°16′30″đông) ở độ cao 4724m, nằm ở khu vực biên giới quân sự giữa Thổ Nhĩ Kỳ với Liên Xô cũ và được liệt vào hàng “bí mật”. Những năm sau này con tàu được rất nhiều các máy bay và vệ tinh chụp lại và được công khai vào năm 1995 theo Đạo luật tự do thông tin. (Ảnh: tinhhoa.net)

Đã có hàng nghìn bức ảnh về con tàu trên ngọn núi huyền thoại này được chụp từ các máy bay Mỹ. Năm 1973 Porcher Taylor III, giáo sư trường Tổng hợp Richmond lần đầu tiên công bố rằng vật thể trong các bức ảnh chính là con tàu Noah huyền thoại.

Công bố đó đã gây ra sự chấn động toàn thế giới bởi trước đó hầu hết các nhà khoa học đều phủ nhận câu chuyện trong Kinh Thánh về trận Đại Hồng thủy và con tàu Noah.

Tiếp theo, những công cuộc khai quật và nghiên cứu được tiến hành một cách nghiêm túc cho thấy đích thực có tồn tại một con tàu khổng lồ, chở theo nhiều người và gia súc yên nghỉ trên ngọn núi Ararat.

Phần đầu tiên của cuộc nghiên cứu là kiểm tra vật thể và đo lường kích thước của nó. Vật thể trông giống phần thân của một con tàu lớn. Một đầu nhọn là mũi tàu, còn đầu kia bo lại là đuôi tàu. Khoảng cách từ mũi đến đuôi là gần 160m:

Trên mạn phải của con tàu, gần đuôi (điểm B) có 4 thanh lồi ra khỏi phần đất bùn, cách đều nhau, được xác định là các sườn khung của thân tàu. Đối diện với chúng, ở bên mạn trái, có một thanh sườn cũng lồi ra khỏi đất bùn (điểm A).

Gỗ của con tàu đã bị hóa thạch. Các chất hữu cơ đều đã bị thay thế bằng khoáng chất, chỉ còn lại hình thù và dấu vết của các thanh sườn tàu. Gỗ đều đã hóa thạch và xói mòn từ rất lâu trước đó. Nhưng chúng ta có thể dễ dàng quan sát thấy hình dáng uốn cong của nó. Xung quanh đó là rất nhiều sườn khung khác, phần lớn bị chôn vùi trong đất, kiểm tra kỹ đều có thể thấy được:

Gỗ của con tàu đã bị hóa thạch. Các chất hữu cơ đều đã bị thay thế bằng khoáng chất, chỉ còn lại hình thù và dấu vết của các thanh sườn tàu.

Con tàu này nằm giữa một dòng bùn khô. Căn cứ theo vị trí của con tàu và dòng bùn, có thể thấy rõ vật thể này đã bị cuốn trôi cùng dòng chảy của bùn, ra cách xa khỏi vị trí ban đầu của nó khoảng 1,6 km. Các nhà địa chất học tin rằng ban đầu con tàu này nằm ở vị trí cao hơn chỗ hiện tại khoảng 300m, và bị bao bọc trong một lớp bùn cứng hơn. Họ cho rằng vào năm 1948, một trận động đất đã phá vỡ lớp vỏ bùn cứng ấy, khiến con tàu lộ ra. Điều này cũng được dân làng xung quanh đó xác nhận.

Mắt người chỉ nhìn được vật thể nhờ ánh sáng phản chiếu từ nó. Để nhận ra những vật thể nằm bên dưới mặt đất, các nhà khoa học sử dụng sóng siêu âm xuyên qua mặt đất. Kỹ thuật này thường được dùng để xác định vị trí dầu mỏ và các khoáng chất khác. Thiết bị để làm việc này được gọi là Radar xuyên đất (máy GPR):

Radar ngầm đã giúp xác định rõ các cấu trúc bên dưới mặt đất. Chúng hoàn toàn đối xứng và có bố cục rất hợp lý.

Kết quả radar scan: Radar ngầm đã giúp xác định rõ các cấu trúc bên dưới mặt đất. Chúng hoàn toàn đối xứng và có bố cục rất hợp lý. Đây là những kích thước chính xác như được mô tả của con tàu trong Kinh Thánh.

Radar cũng cho thấy nhiều cấu trúc cây gỗ bên trong thân tàu. Kết quả phân tích cho thấy chúng là những thanh gỗ sống tàu, sống phụ, mép tàu, các buồng ở, các buồng động vật, hệ thống thang (con tàu có 3 tầng), cánh cửa phía mũi mạn phải, 2 cái thùng lớn ở gần mũi tàu kích thước 14 x 24 inch, và một giếng trời nhỏ ở khu vực chính giữa con tàu để thông khí cho toàn bộ 3 tầng của con tàu tiền sử vĩ đại này.

“Dữ liệu này không tương ứng với kiến tạo địa chất tự nhiên. Chúng là những cấu trúc nhân tạo…” Ron Wyatt, một nhà nghiên cứu cho biết.

Có lẽ khám phá quan trọng và đáng kinh ngạc nhất thu được từ hiện trường là một miếng gỗ đã hóa thạch. Khi mới được tìm thấy, người ta tưởng rằng đó là một miếng gỗ đơn thuần của sàn tàu. Nhưng khi kiểm tra kỹ lưỡng hơn, hóa ra miếng gỗ này bao gồm 3 tấm ván khác nhau, được cán mỏng sau đó gắn chặt với nhau bằng một loại keo dán hữu cơ. Nó rất giống với cách chế tạo gỗ dán của chúng ta ngày nay! Gỗ dán có sức bền lớn hơn nhiều so với gỗ thường. Điều này chứng tỏ con người cổ đại đã sở hữu trình độ công nghệ rất cao.

Trái: Kết quả phân tích của phòng thí nghiệm Galbraith Labs tại Knoxville, Tennessee, Mỹ cho thấy mẫu gỗ hóa thạch này chứa tới 0,7% carbon hữu cơ. Phải: Bên trong mẫu gỗ dán cực kỳ cổ xưa đã hóa thạch này, người ta tìm thấy dấu vết của những cây đinh sắt.

 

Ngoài ra, tại hiện trường các nhà khoa học cũng thu thập được rất nhiều mẫu vật hóa thạch của đinh tán, xương và phân động vật, mỏ neo,…

Những cây đinh sắt bên trong mẫu gỗ dán cực kỳ cổ xưa đã hóa thạch.

Dựa trên những dữ kiện lịch sử và nghiên cứu trên, ta có thể chắc chắn rằng xác thực có một con tàu khổng lồ đã hóa thạch ở vùng núi Ararat, Thổ Nhĩ Kỳ, và gần như chắc chắn nó chính là con tàu huyền thoại Noah.

Vào ngày 20/6/1987, Thống đốc tỉnh Agri của Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố với thế giới rằng: Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Ataturk, cơ quan khảo cổ Thổ Nhĩ Kỳ… đã công nhận vật thể hình chiếc tàu trên ngọn núi Ararat tại độ cao 2.000m so với mực nước biển ấy là con tàu của Noah. Khu vực này trở thành công viên quốc gia, báu vật quốc gia của họ. Đây là một trong những phát hiện lịch sử học và khảo cổ học vĩ đại nhất, cho thấy Đại Hồng Thủy và con tàu Noah là sự thật.

Tờ báo lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ: Chính phủ xác nhận: “Đây là tàu Noah”.

Những khám phá này cũng vén lên bức màn lịch sử: trước thời kỳ văn minh này đã tồn tại những thời kỳ văn minh trước với trình độ khoa học kỹ thuật rất cao và các trận Đại Hồng thủy đã khiến những nền văn minh đó bị hủy diệt, chỉ có một số ít nhân loại sống sót và tiến vào một kỷ nguyên mới, chính là nền văn minh nhân loại chúng ta hiện nay.

Đại Kỷ Nguyên

Có thể bạn sẽ thích

Bình Luận

Your email address will not be published.