Báo hay cho người bận rộn

Đọc lại: Hà Nội bắn rơi bao nhiêu B-52 trong chiến dịch Linebacker II?

0

Đọc lại: Hà Nội bắn rơi bao nhiêu B-52?

  • 19 tháng 12 2017
Mảnh của pháo đài bay B-52 ở bảo tàng tại Hà Nội
Image caption Mảnh của pháo đài bay B-52 ở bảo tàng tại Hà Nội

Chiến dịch ném bom Hà Nội và Bắc Việt Nam dịp Giáng Sinh 1972 vẫn được giới sử gia quân sự Hoa Kỳ quan tâm nhiều năm sau cuộc chiến.

Quan điểm ai đã ‘thắng’ sau trận oanh tạc làm chết nhiều thường dân miền Bắc Việt Nam cũng như con số ‘pháo đài bay B-52’ bị Bắc Việt hoặc đồng minh của họ bắn hạ hai phía Mỹ – Việt nêu ra vẫn còn nhiều khác biệt như trong phần tổng hợp sau:

Nhìn từ Hà Nội

B-52GBản quyền hình ảnh USAF
Image captionHình một chiếc B-52G chụp nhiều năm sau Chiến tranh Việt Nam. Loại phi cơ ném bom này được cho là có ‘tuổi thọ’ cao

Tại Việt Nam từ trước tới nay đã có các chi tiết khác nhau về số pháo đài bay B-52 của Hoa Kỳ bị Bắc Việt Nam bắn rơi ngay trên báo chí nhà nước.

Một bài trên trang web của Đảng Cộng sản Việt Nam về ‘Trận Điện Biên Phủ trên không’ hôm 14/02/2004 viết:

“Qua 12 ngày đêm chiến đấu kiên cường (từ 18 đến 30-12-1972) quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B-52,”

Lực lượng phòng không Việt Nam bắn trả trước đợt tấn công của không quân Mỹ năm 1972. Trong 12 ngày đêm này, phi cơ B-52 đã được sử dụng và đã thả 17 ngàn tấn bom xuống Hà Nội và Hải Phòng
Image caption Lực lượng phòng không Việt Nam bắn trả trước đợt tấn công của không quân Mỹ năm 1972. Trong 12 ngày đêm này, phi cơ B-52 đã được sử dụng và đã thả 17 ngàn tấn bom xuống Hà Nội và Hải Phòng

“Thất bại này của Mỹ không chỉ đơn thuần là thất bại quân sự, mà là thất bại chiến lược toàn diện cả về quân sự lẫn chính trị.”

“Cùng với những thắng lợi giành được trước đó, đặc biệt là trong cuộc tiến công chiến lược 1972 ở miền Nam, thắng lợi của trận ‘Điện Biên Phủ trên không‘ trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng đã góp phần buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, rút quân khỏi miền nam Việt Nam.

Sau bài báo đó 3 năm, con số 34 pháo đài bay B-52 của Mỹ bị bắn hạ tiếp tục được trang web của Đài Tiếng nói Việt Nam nhìn lại trận oanh kích vào Giáng Sinh trong bài có tựa đề tiếng Anh ‘The Christmas bombings of Hanoi in retrospect’.

Nhưng trong một bài đăng năm 2012, báo Quân đội Nhân dân đã giảm con số B-52 xuống so với trước:

“Trong 12 ngày đêm từ 18-12-1972 đến 29-12-1972, quân dân Hà Nội đã lập một kỳ tích lịch sử: bắn rơi 23 máy bay B-52, bắt sống nhiều phi công Mỹ.”

Nhận định về kết quả quân sự – chính trị của chiến dịch nhìn từ phía Hà Nội, tờ báo viết:

“Sau sự kiện này, Tổng thống Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom trên toàn miền Bắc Việt Nam từ 30-12-1972, đi đến việc ký kết Hội nghị bốn bên về ‘chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam’ tại Pa-ri ngày 27-1-1973”.

Đây là quan điểm cho rằng vì ‘thất bại’ do số thiệt hại quá lớn, Hoa Kỳ phải ngưng không kích và chấp nhận đàm phán.

Con số tử vong được tướng Phillip B Davidson viết trong cuốn The History 1946-75 Vietnam At War trích dẫn chính phủ Việt Nam công bố 1318 người chết và 1261 người bị thương trong đợt không tập kéo dài 12 ngày đêm
Image captionCon số tử vong được tướng Phillip B Davidson viết trong cuốn The History 1946-75 Vietnam At War trích dẫn chính phủ Việt Nam công bố 1318 người chết và 1261 người bị thương trong đợt không tập kéo dài 12 ngày đêm

Nhìn ̀từ Hoa Kỳ

Đã có rất nhiều tài liệu của các nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ, các nhà bình luận và phân tích quân sự về chiến dịch Hoa Kỳ gọi là Linebacker II (trận Linebacker I hồi tháng 5/1972 chỉ nhằm để kiểm tra sức mạnh phòng không Bắc Việt).

Một trong số bài viết gần đây nhất, của Rebecca Grant trên trang Bấm Airforce Magazine tháng 12/2012 mô tả:

“Các đội bay của B-52 xuất kích cả thảy 729 lần trong đêm… Cho đến khi chiến dịch kết thúc, Bắc Việt Nam đã quỳ gối, nói như lời của Cố vấn an ninh quốc gia Henry A. Kissinger. Họ đã sẵn sàng ký vào văn bản hòa đàm gồm cả phần trao trả tù binh Mỹ,”

Bà Rebecca Grant cũng trích lời sử gia không quân Walter J. Boyne nói có tám phi công Mỹ “bị giết khi tham chiến hoặc chết vì vết thương, 25 mất tích, 33 bị bắt làm tù binh chiến tranh, và chỉ có 26 được cứu thoát trước khi rơi bị bắt sống”.

Con số B-52 bị bắn hạ, theo nguồn tin này là 15.

Súng phòng không của miền Bắc Việt Nam thời kỳ Mỹ ném bom Hà Nội và Hải Phòng. Lực lượng miền bắc Việt Nam tuyên bố đã bắn hạ khoảng 34 máy bay B-52 trong khi con số của Hoa Kỳ nói chỉ có 15 chiếc
Image captionSúng phòng không của miền Bắc Việt Nam thời kỳ Mỹ ném bom Hà Nội và Hải Phòng. Lực lượng miền bắc Việt Nam tuyên bố đã bắn hạ khoảng 34 máy bay B-52 trong khi con số của Hoa Kỳ nói chỉ có 15 chiếc

Bản thân sử gia Walter J. Boyne trong một tài liệu đăng năm 1997 nói rằng trên thực tế, hai đội bay B-52 ở Guam và U Tapao lên kế hoạch cho 741 lần xuất kích nhưng 12 chuyến phải bỏ.

Nhìn chung, các giới ở Hoa Kỳ đến nay vẫn cho rằng Linebacker II mà Mỹ cho là chỉ có 11 ngày (the 11- Day War) đã đem lại ‘thắng lợi quân sự’ và đã buộc Bắc Việt quay lại bàn đàm phán vốn bị bế tắc ở Paris.

Theo BBC News

Bài trên trang tiếng Anh của BBC Magazine ‘North Vietnam, 1972: The Christmas bombing of Hanoi’ (24/12/2012) nhấn mạnh đến sự tàn khốc của trận mưa bom.

“Vào thời điểm đó 1600 người Việt Nam bị giết, theo số liệu của nhà chức trách cộng sản, mà con số thực có thể còn cao hơn,”

Nhưng bài viết cũng cho rằng trận tấn công “có thể đã giúp cho việc ký kết hòa ước một tháng sau đó”.

Viết về Đêm Giáng Sinh khủng khiếp năm 1972, bài báo cho rằng vì sự chống trả quyết liệt của phía Bắc Việt Nam, “không lực Hoa Kỳ mất hai chiếc B-52 đêm đó, trong tổng số 15 chiếc”.

Hình ảnh một chiếc B-52 bị trúng đạn nổ tung trên bầu trời Hà Nội trong đợt Mỹ ném bom 12 ngày đêm, từ ngày 18 - 29/12 năm 1972. Chiến dịch không tập của Mỹ mang tên Linebacker II trong khi Việt Nam vẫn biết đến với cái tên "Điện Biên Phủ trên không"
Image captionHình ảnh một chiếc B-52 bị trúng đạn nổ tung trên bầu trời Hà Nội trong đợt Mỹ ném bom 12 ngày đêm, từ ngày 18 – 29/12 năm 1972. Chiến dịch không tập của Mỹ mang tên Linebacker II trong khi Việt Nam vẫn biết đến với cái tên “Điện Biên Phủ trên không”

“Một số phản lực cơ và máy bay hỗ trợ cũng bị phá trong vòng 11 ngày diễn ra Linebacker II.”

“Linebacker II chấm dứt ngày 29 tháng 12 và đến ngày 8 tháng 1/1973, mọi bên đều đã có mặt trở lại phòng hòa đàm ở Paris.”

Bài của BBC cũng nói có yếu tố tâm lý tác động đến quyết định của Tổng thống Richard Nixon khi quyết định nghe theo quan điểm của phe quân sự Mỹ cho ném bom Hà Nội bằng B-52.

Đó là vì “hình ảnh các phi công bị cầm tù và tra tấn ở miền Bắc và thường xuyên bị bêu riếu trên truyền hình là một sự xấu hổ cho Washington. Ông Nixon đã chịu một sức ép phải làm sao đưa quân về nước.”

“Hòa đàm Paris được ký vào cuối tháng đó, cho phép trao trả một số tù binh Mỹ và mở đường cho sự chấm dứt cuộc can dự quân sự của Hoa Kỳ ở Việt Nam.”

Chỉ là một trận đánh đưa tới chiến thắng

Pháo đài bay B-52 ném bom Việt NamBản quyền hình ảnh STF/GETTY IMAGES
Image captionPháo đài bay B-52 ném bom Việt Nam

Nhưng theo Marshall Michel, tác giả cuốn ‘The Eleven Days of Christmas: America’s Last Vietnam Battle’ thì cuối cùng, người Bắc Việt Nam đã thấy họ chiến thắng.

Họ nhấn mạnh rằng cuộc ném bom của Hoa Kỳ có mục tiêu buộc họ đầu hàng, rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Nhưng Hòa đàm Paris cuối cùng thì đã đồng ý cho Bắc Việt để quân đội ở lại phía Nam, và vì thế họ có thể nói là chiến dịch Linebacker II đã thất bại.

Niềm tin này còn được củng cố sau khi quân Bắc Việt ở lại phía Nam đã đem lại chiến dịch thống nhất cuối cùng năm 1975. Để hoàn toàn hiểu sự khác biệt trong các cách giải thích khác nhau, tôi đã phải hiểu ra rằng từ góc độ của người cộng sản Việt Nam, Linebacker II đơn giản chỉ là một chiến thắng nữa trong cả một chuỗi thắng lợi của họ trong cuộc chiến vì độc lập 30 năm. Bằng chứng cho chiến thắng chính là sự thống nhất đất nước của họ.”

__________________

Đọc thêm:

Ném bom Hà Nội: Nixon có đạt mục tiêu?

  • 22/12/2017

Chiến dịch đánh bom miền Bắc Việt Nam tháng 12/1972 diễn ra trong bối cảnh cuộc hòa đàm tại Paris dậm chân tại chỗ.

B-52Bản quyền hình ảnh USAF
Image captionB-52 rải bom xuống miền Bắc Việt Nam

Trong 12 ngày đầu tháng 12 năm đó, cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger và đại diện Bắc Việt, Lê Đức Thọ, tiến hành nhiều cuộc họp nhưng không đạt tiến bộ.

Ngày 13/12, ông Lê Đức Thọ nói cần quay về Hà Nội nhiều ngày để “tham vấn”.

Ngày hôm sau, Nixon ra lệnh tiến hành chiến dịch LineBacker II, bắt đầu từ 18/12, đánh bom trở lại miền Bắc, sau khi chiến dịch ban đầu Linebacker đã ngừng vào ngày 23/10.

Một ngày trước khi cuộc đánh bom mùa Giáng sinh bắt đầu, Nixon nói với Đô đốc Thomas Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ: “Tôi không còn muốn thứ nhảm nhí là không được đánh mục tiêu này, mục tiêu kia.”

“Đây là cơ hội cho anh dùng quân lực để thắng cuộc chiến này. Nếu làm không được, anh chịu trách nhiệm.”

Khác biệt giữa Nixon và Kissinger

Ngày 3/2/1973, Tổng thống Richard Nixon kể lại với một thư ký về lý do ông ra lệnh đánh bom miền Bắc tháng 12/1972.

Hình minh họaBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCó số liệu nói Mỹ đã đổ 36.000 tấn bom xuống miền Bắc Việt Nam trong 12 ngày đêm

Cuộc nói chuyện chỉ được Thư viện Tổng thống Nixon công bố cuối năm 2010.

Trong đó, Nixon than thở rằng báo chí quy cho ông trách nhiệm, trong khi Henry Kissinger mới là người cổ vũ đánh bom.

Nixon nói với thư ký rằng chính ông ép Kissinger phải tiếp tục hòa đàm trong khi cố vấn an ninh chỉ muốn xóa đàm phán và tái tục đánh bom.

Năm năm sau, Nixon cũng nhắc lại quan điểm này trong hồi ký, rằng chính ông mới muốn tiếp tục đàm phán cho đến khi thấy rõ không còn lựa chọn nào khác. Và rằng chỉ sau khi kết thúc cuộc họp khó khăn giữa Kissinger và Bắc Việt hôm 13/12 mà Nixon mới miễn cưỡng ra quyết định đánh bom Hà Nội để buộc Bắc Việt chấp nhận “giải pháp công bằng”.

Năm 1979, khi Kissinger công bố hồi ký của riêng mình, ông lại cho ra câu chuyện khác. Ông thừa nhận mình thường cổ vũ dùng vũ lực để ép Hà Nội thôi chiến thuật câu giờ tại Paris, nhưng lại nói rằng Nixon thường đồng tình.

“Ông ấy [Nixon] muốn ra lệnh tấn công bằng B-52 với khu vực Hà Nội – Hải Phòng ngay cả trước lúc cuộc họp của tôi tái tục hôm 6/12,” Kissinger viết.

Dựa trên các băng ghi âm và điện tín giữa Nixon và các cố vấn được giải mật gần đây, Thư viện Nixon cho rằng chúng xác nhận câu chuyện của Tổng thống.

Theo đó, vào tháng 11 và 12/1972, Henry Kissinger liên tục đề xuất mở chiến dịch đánh bom Bắc Việt trong khi Nixon ngần ngừ.

Vào ngày 14/12, họp tại Phòng Bầu dục, Kissinger đề nghị đánh bom kéo dài sáu tháng. Mặc dù giờ đây đã bớt ngần ngừ, Nixon, lúc này vừa tái đắc cử, cho rằng phi thực tế khi nghĩ Quốc hội Mỹ khóa mới sẽ chi tiền cho chiến dịch sáu tháng.

Nixon cho rằng việc đánh bom sẽ phải tiến hành trước khi Quốc hội mới tái họp.

Đến cuối cuộc họp, Nixon nói việc đánh bom Bắc Việt là lựa chọn tốt nhất để thoát khỏi bế tắc đàm phán.

Nói với Tổng thống rằng “Bắc Việt sợ chết khiếp khi ngài tái tục đánh bom”, Kissinger bảo đảm rằng nếu Mỹ không ném bom Hà Nội, tổng thống sẽ “bất lực”.

Nhận định của giới sử gia

Cuốn The Vietnam War: An Intimate History (in năm 2017) của Geoffrey Ward nhận định Nixon có hai mục tiêu: buộc Bắc Việt quay lại đàm phán, và chứng tỏ cho miền Nam của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu rằng Mỹ sẵn sàng dùng không lực đánh miền Bắc nếu Hà Nội vi phạm hiệp định mà Nixon đang đòi ông Thiệu phải ký.

B-52Bản quyền hình ảnhUSAF
Image captionMột phi cơ B-52 cất cánh từ căn cứ ở Thái Lan năm 1968 để ném bom Việt Nam – hình tư liệu

Cuộc đánh bom kéo dài đến ngày 29/12, và theo số liệu của Geoffrey Ward, Mỹ đã đổ 36.000 tấn bom xuống miền Bắc Việt Nam – nhiều hơn toàn bộ số bom sử dụng từ 1969 đến 1971.

Số liệu chính thức của Việt Nam nói Mỹ đã sử dụng 663 lần chiếc B-52 và 3.920 lần chiếc máy bay chiến thuật ném bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi trên miền Bắc.

‘Hạ gục’ phòng không miền Bắc?

Đánh giá về sự kiện, tướng ba sao Phillip Davidson, trong cuốn sử Vietnam at War (1988), nói sau 12 ngày, “không còn mục tiêu quân sự nào tại miền Bắc để đánh nữa”.

“Các cuộc không kích của Mỹ đã hủy diệt khả năng của Bắc Việt tự vệ trước các vụ không kích sau này.”

Tổng thống Richard Nixon và Henry KissingerBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTổng thống Richard Nixon và Henry Kissinger

Phillip Davidson đánh giá rằng khả năng phòng thủ của Hà Nội kiệt quệ tới mức trong ba ngày cuối, máy bay của Mỹ “gần như không còn bị bắn trả”, và “kết quả quan trọng nhất là Hà Nội đã hiểu thông điệp của Nixon”.

Tuy nhiên, một tác giả khác, Marshall Michel, trong một bài viết đã đăng trên trang ‘Air & Space Magazine’ tháng 1/2001, lại cho rằng lý do Hoa Kỳ giảm thiệt hại về B-52 ở giai đoạn sau của chiến dịch Linebacker 2 là vì thay đổi chiến thuật bay vào Hà Nội.

Theo ông, một tướng Mỹ đã phê phán cách bay đến mục tiêu và bay về theo một đường dọc nối đuổi nhau (single file) của các pháo đài bay B-52.

Sau sự thay đổi, từ đêm 26/12/1972 hơn 100 chiếc B-52 từ hai hướng, Lào, và Vịnh Bắc Bộ bay vào ném bom Hà Nội và Hải Phòng, nhưng không bay theo đường thẳng mà tiếp cận mục tiệu “từ mọi hướng” (nguyên văn: mọi góc độ của la bàn – attacking from all directions on the compass).

“Phòng không và radar của Bắc Việt tuyệt vọng không việc tìm các tuyến bay nhưng hệ thống điều khiển bằng tay của họ đã không thể bám theo kịp các mục tiêu.

“Nhiều chiếc B-52 sau khi ném bom đã không vòng về ngay như trước mà bay tiếp, hoặc một số bay về chậm hơn.”

Tác giả này mô tả “đa số tên lửa đất đối không của Bắc Việt vẫn bắn lên nhưng cuối cùng chỉ có một B-52 bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội. Một chiếc nữa đâm xuống đất khi hạ cánh ở U-Tapao (Thái Lan)”.

Trở lại đàm phán

Ngày 8/1/1973, vòng đàm phán thứ ba và cuối cùng mở màn ở Paris và sau đó được bốn bên – Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa – ký vào cuối tháng Giêng.

Lê Đức ThọBản quyền hình ảnh CENTRAL PRESS
Image captionNhà đàm phán Bắc Việt – ông Lê Đức Thọ

Trong quyển được xem là kinh điển về chiến lược dùng không lực, Bombing to Win: Air Power and Coercion in War (1996), Robert Pape cho rằng chiến dịch Linebacker II buộc Hà Nội trở lại đàm phán, nhưng “không tạo ra khác biệt đáng kể nào” đối với nội dung hiệp định.

Robert Pape chỉ ra rằng khi hội đàm tái tục tháng Giêng 1973, Hà Nội đồng ý để Mỹ “đưa vào những sửa đổi hời hợt để Mỹ có thể biện hộ trước cáo buộc ép đồng minh ký”.

Tuy nhiên, Robert Pape cho rằng hai chiến dịch đánh bom Linebacker cũng tác động đến tính toán của Hà Nội không chỉ vào năm 1972. Một nguyên nhân khiến Hà Nội chưa “tổng tiến công” sau khi Mỹ rút năm 1973 là vì e ngại sức mạnh không quân của Mỹ.

Chỉ cho đến cuối năm 1974, sau khi Nixon phải từ chức vì vụ Watergate, và sau trận Phước Long tháng 12/1974 xác nhận Mỹ không can thiệp, Hà Nội mới tiến hành Chiến dịch Mùa Xuân 1975.

Ký kết hiệp định

Mỹ ép Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ký Hiệp định ParisBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionHoa Kỳ đã ép Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ký Hiệp định Paris

Cuốn sử gần đây hơn, Hanoi’s War (2012) của Nguyễn Liên Hằng, cho biết thêm mặc dù Liên Xô và Trung Quốc ra tuyên bố lên án vụ đánh bom, nhưng hai đồng minh, trong khi họp kín, đã “gây sức ép” buộc Hà Nội đàm phán với Washington.

Tác giả Nguyễn Liên Hằng cũng ghi nhận cuộc đánh bom 12 ngày đêm “đem lại sự phẫn nộ toàn cầu; thay vì bẻ gãy ý chí của Hà Nội, những quả bom của Mỹ đã khiến quốc tế lên án chính quyền Mỹ”.

Ngày 23/12, Đại sứ Liên Xô Scherbakov nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng rằng Hà Nội nên sẵn sàng họp với Mỹ và chỉ nên đòi Mỹ ngừng đánh bom.

Đến ngày 26/12, Bắc Việt gửi thư đề nghị tổ chức cuộc gặp giữa Kissinger và Lê Đức Thọ vào ngày 8/01/1973.

Cùng ngày trao đổi với Tổng thống Nixon qua phone, Kissinger đề xuất sẽ tiếp tục trao đổi thư từ với Bắc Việt để kéo dài đánh bom tới ngày 31/12. Đó cũng là khi Washington sẽ loan báo rằng sẽ tái tục đàm phán vào ngày 8/01/1973.

Đến hôm sau, cũng qua phone, Kissinger cho Nixon biết ông đã gửi thông điệp cho Hà Nội rằng nếu Bắc Việt xác nhận, Mỹ sẽ ngừng ném bom “trong vòng 36 tiếng”.

‘The Vietnam War’ và khi Đồng Minh tháo chạy

Hồ sơ JFK: KGB, Johnson và Ngô Đình Diệm

Pháo đài bay B-52 và sứ mệnh tìm đường lên Mặt Trăng

Cuốn Hanoi’s War của Nguyễn Thị Liên Hằng dẫn số liệu cho biết 27 máy bay Mỹ bị bắn rơi, gồm 15 máy bay B-52 (miền Bắc thì tuyên bố bắn rơi 81 chiếc, gồm 34 chiếc B-52).

Còn cuốn của Geoffrey Ward, cuốn sách chính thức đi kèm phim tài liệu vừa ra mắt năm 2017 của Ken Burns, nhận xét gần giống với Phillip Davidson khi nói: “B-52 hủy diệt toàn bộ hệ thống phòng không Bắc Việt.”

Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai nói với một quan chức Bắc Việt:

“Điều quan trọng nhất là để người Mỹ ra đi. Tình hình sẽ thay đổi trong sáu tháng, một năm.”

Buồng lái B-52Bản quyền hình ảnhNASA
Image captionBuồng lái của B-52. Nhiều năm sau cuộc chiến Việt Nam, Hoa Kỳ vẫn duy trì các đội bay B-52

Geoffrey Ward cho rằng nội dung hiệp định Paris rốt cuộc không khác mấy nội dung thương lượng hồi tháng 11, trước khi diễn ra chiến dịch đánh bom. Nói như John Negroponte, trợ lý của Kissinger, thì Mỹ “đánh bom buộc Bắc Việt chấp nhận những nhượng bộ của chúng tôi”.

Bài học từ Hoàng Sa

Henry Kissinger bị phản đối khi đến Oslo

Đâu là toan tính của TQ ở Biển Đông?

Rốt cuộc, chiến dịch đánh bom tháng 12/1972 đem lại điều mà Tổng thống Nixon muốn: một bản hiệp định mở đường cho Mỹ rời khỏi Việt Nam “trong danh dự”.

Trước lúc hiệp định Paris được ký, Nixon gửi ba lá thư cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Trong đó, Nixon dọa nếu ông Thiệu không ký, ông đối diện “việc ngừng toàn bộ trợ giúp”.

Nhưng Nixon cũng cam kết “Mỹ sẽ phản ứng mạnh mẽ khi xảy ra vi phạm hiệp định” – điều mà đa số sử gia tin rằng Nixon sẽ thực hiện nếu không phải từ chức vì vụ Watergate.

Ngày 22/01/1973, Lyndon Baines Johnson, Tổng thống đã đưa quân Mỹ đổ bộ vào Việt Nam, qua đời.

Ngày hôm sau, phát biểu trước quốc dân, Tổng thống Richard Nixon tuyên bố đã đạt thỏa thuận “chấm dứt chiến tranh, đem lại hòa bình với danh dự tại Việt Nam và Đông Nam Á”.

Tổng thống Hoa Kỳ như thế đã nhận rằng ông “chiến thắng”.

Nhưng Bắc Việt “cũng đã thấy họ chiến thắng”, như nhận xét của Marshall Michel.

Đó là vì Hà Nội “nhấn mạnh rằng cuộc ném bom của Hoa Kỳ có mục tiêu buộc họ đầu hàng, rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Nhưng Hòa đàm Paris cuối cùng thì đã đồng ý cho Bắc Việt để quân đội ở lại phía Nam, và vì thế họ có thể nói là chiến dịch Linebacker II đã thất bại”, tác giả cuốn ‘The Eleven Days of Christmas: America’s Last Vietnam Battle’ viết.

BBC

Có thể bạn sẽ thích

Bình Luận

Your email address will not be published.