Báo hay cho người bận rộn

Đường Cổ Ngư xưa

0

Đường Cổ Ngư – Thanh Niên

31/08/2014
Đường Thanh Niên xưa vốn có tên là Cố Ngự. Thời thuộc Pháp, những người vẽ bản đồ và kẻ biển tên phố Hà Nội quen viết chữ Việt không có dấu giọng như chữ Pháp, lâu dần người dân đọc chệch ra thành đường Cổ Ngư. Khoảng đầu những năm 1960, đường Cổ Ngư được mở rộng và được đặt tên mới: đường Thanh Niên.

Đường Cổ Ngư nhìn từ đê sông Hồng (ảnh chụp đầu thế kỷ XX)
Hồ Tây và hồ Trúc Bạch nguyên chỉ là một. Từ Thế kỷ XVII, người dân đánh cá quanh vùng đắp con bờ nhỏ từ Yên Hoa (Yên Phụ) xuống Yên Ninh cho khỏi đi vòng, rồi sóng vỗ, thời gian xô lở, năm nào cũng phải đắp lại cho vững, thành ra con đường có tên đê Cố Ngự (nghĩa là giữ cho vững).
Góc hồ này, nguyên có một hành cung của Chúa Trịnh Doanh, cung đó sau thành nơi an trí những cung nữ có tội hoặc về già. Họ trồng dâu chăn tằm và tự dệt lụa, thứ lụa trắng ngà, mềm, mỏng, cực đẹp, gọi là lụa Làng Trúc, và cái tên Trúc Bạch ra đời, mảnh Hồ Tây ngăn ra cũng mang luôn tên ấy: hồ Trúc Bạch.
Dâu bể là lẽ thường tình, qua hàng trăm năm, hai con hồ này ngày nay đã bị thu hẹp đi nhiều do lấn chiếm, có lẽ một phần cũng do lòng người bị hẹp đi hơn trước chăng?
Thời Chúa Trịnh, hồ Trúc Bạch còn trồng sen, thơm nức một vùng. Làng Ngũ Xã do dân 5 làng có nghề đúc đồng của các địa phương tụ hội về đây lập nghiệp, ngày nào lửa lò cũng nghi ngút, xen kẽ với hương hoa sen, còn được ghi trong bài phú lừng danh một thời của Nguyễn Huy Lượng làm năm 1801 với câu:
Liễu bờ kia bay tơ biếc phất phơ, thoi oanh ghẹo hai phường dệt gấm
Sen vũng nọ nảy tiền xanh lác đác, lửa đóm ghen năm xã gây lò…
(Tụng Tây Hồ phú)
Một bài phú chỉ độc vận: vần Hồ. Nguyễn Huy Lượng đã tài hoa, về sau, Phạm Thái, một nhà thơ trữ tình cũng tài hoa không kém đã viết bài phú: Chiến Tụng Tây Hồ, cũng vẫn vần ấy, có ý phản bác người trước và cũng là phản đối nhà Tây Sơn… đã trở thành một giai thoại văn chương của kẻ sỹ Bắc Hà.
Hồ Trúc Bạch không rộng, đứng bên này vẫn nhìn thấp thoáng bóng người bên bờ kia. Trên đường Thanh Niên lộng gió và tràn trăng, ta mới cảm nhận được gương nước sóng lăn tăn kia là quý giá như thế nào…
Thật sung sướng khi đứng trên đường Thanh Niên nhìn ra phía tây, gương hồ mù sương trong hoàng hôn lộng gió, và nhìn về phía đông, ta đón gió hồ Trúc Bạch lồng lộng mát rượi thịt da, tung mớ tóc phàm trần bụi bặm. Hàng cây hoa ban tím đã nở nhiều mùa, dãy cây xoan tây cứ dâng những đĩa xôi gấc cho mùa hè nồng thắm. Hồ Trúc Bạch phải trở về với thanh khiết, thoáng đãng của nguyên hình nó từ bao đời.
Chắc ta sẽ có dịp đi quanh hồ Trúc Bạch, rẽ vào bán đảo Ngũ Xã, thăm ngôi chùa cổ, viếng tượng Phật Di Đà, âm vang trong ta những câu phú tài tình, con được nâng chân ta một vòng, không vướng những cái tham lam, những cái lố lăng, những cái ô nhiễm, ô nhiễm cả mặt hồ, ô nhiễm cả tâm hồn con người, ô nhiễm cả thiên nhiên và lịch sử… như những ngày qua Hồ Trúc Bạch phải chịu đựng.
Xung quanh hồ Trúc Bạch có một số công trình kiến trúc, di tích lịch sử, văn hoá nổi tiếng: Góc hồ phía Tây là đền Quán Thánh – Quán thờ Thánh Trấn Vũ, một nhân vật hình tượng Việt Nam, ông Thánh đã giúp An Dương Vương trừ ma quấy phá khi xây Thành Cổ Loa…
Đền Quán Thánh được xây dựng từ đời vua Lý Thái Tổ (1010-1028). Đặc biệt, đền có pho tượng Trấn Vũ bằng đồng đen cao 3m96, nặng 3.600kg, chu vi 3m50 do những người thợ làng Ngũ Xã đúc năm 1677. Cụ Trùm Trọng, người thợ cả đúc tượng Trấn Vũ cũng được đúc tượng thờ tại đền.
Làng Ngũ Xã còn nổi tiếng với pho tượng Phật Adiđà (trong chùa Thần Quang) làm bằng đồng đúc liền khối lớn nhất Việt Nam, khởi đúc năm 1949 đến năm 1952 thì hoàn thành. Tượng cao 3m9, chu vi 11m, nặng 14 tấn, là một công trình nghệ thuật vô cùng quý giá không chỉ ở Việt Nam mà còn của thế giới.
Phía đông hồ có chùa Châu Long, hay Châu Long Tự, gắn bó với vị công chúa nhà Trần tên là Khiết Cô. Chùa toạ lạc trên một gò đất có hình dáng con rồng nằm nhả ngọc nên mang tên Châu Long; chùa được khởi dựng từ thời Lý – Trần, đến thế kỷ thứ XIX được xây dựng lại như ngày nay. Chùa Châu Long là một công trình điêu khắc có giá trị đã được Nhà nước xếp hạng Di tích văn hoá nghệ thuật.
Nằm ven đường Thanh Niên, ở bán đảo nhỏ mé đông-bắc hồ Tây có chùa Trấn Quốc, một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam. Chùa được xây từ thời Lý Nam Đế (541-547) ở gần sông Hồng, đến năm 1615 được dời vào vị trí ngày nay. Chùa có vườn tháp cổ u tịch và nhiều tượng Phật giá trị, được xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hoá quốc gia.
Văn Hiến (Soạn theo Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long)
Có thể bạn sẽ thích

Bình Luận

Your email address will not be published.