Trang Chủ / VĂN THƠ-KIẾN THỨC-THƯ GIÃN / Toàn cảnh “đấu trường sinh tử” giữa Giang Trạch Dân và Tập Cận Bình

Toàn cảnh “đấu trường sinh tử” giữa Giang Trạch Dân và Tập Cận Bình

Toàn cảnh “đấu trường sinh tử” giữa Giang Trạch Dân và Tập Cận Bình

Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” của ông Tập Cận Bình từ sau khi cầm quyền đến nay thực chất không chỉ là một cuộc chiến chống tham nhũng đơn thuần, mà nó chính là “đấu trường sinh tử” một mất một còn giữa ông và cựu Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân.

Giang Trach Dan - Tap Can Binh

Dưới áp lực đối phó chính biến liên tục và hơn 6, 7 lần bị ám sát hụt, hơn ai hết, ông Tập Cận Bình hiểu rằng nếu không loại bỏ tay chân và khống chế đầu não của phe Giang, thì bản thân ông và Trung Quốc sẽ không thể có tương lai. Loạt bài này tổng hợp các thông tin mô tả toàn diện bức tranh đấu trường chính trị Trung Quốc và cuộc chiến giữa hai phe Giang – Tập. Mở đầu bằng việc giúp độc giả hiểu hơn về con người và quan điểm trị quốc của ông Giang Trạch Dân, từ đó lý giải được nguyên nhân dẫn đến hiện trạng của xã hội Trung Quốc.

Phần 1: Chân dung cựu lãnh đạo Trung Quốc Giang Trạch Dân

1. Xuất thân Hán gian và bán nước cho Nga:

Cựu Tổng Bí thư Trung Quốc Giang Trạch Dân sinh ngày 17/8/1926 tại Giang Tô, vừa qua đã kỷ niệm sinh nhật lần thứ 90 nhiều “sóng gió”. Theo sách “Giang Trạch Dân kỳ nhân”, ông này và bố đẻ của mình là ông Giang Thế Tuấn từng làm Hán gian cho Nhật Bản.

Baidu từng công khai thân phận Hán gian của ông Giang Trạch Dân.
Baidu từng công khai thân phận Hán gian của ông Giang Trạch Dân.

Vào năm Giang Trạch Dân 17 tuổi, chiến tranh chống phát-xít trên toàn thế giới đang diễn ra ác liệt. Trong khi những thanh niên yêu nước thay nhau lên đường ra tiền tuyến đánh Nhật để cứu Trung Quốc, thì ông Giang Trạch Dân quyết định theo đuổi việc học lên cao hơn vào năm 1942 tại Đại học Trung ương, một trường đại học của chính phủ bù nhìn Uông Tinh Vệ ở Nam Kinh dưới quyền kiểm soát của quân Nhật. Theo nhiều nguồn tin điều tra thì lý do thực sự là vì bố đẻ của ông đã từng là một sĩ quan cao cấp trong Ban Tuyên truyền phản Hoa của quân đội Nhật sau khi Nhật chiếm đóng tỉnh Giang Tô trong cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Ông Giang Thế Tuấn đích thực là một Hán gian.

Để lọt được vào Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), ông Giang Trạch Dân đã bịa đặt rằng được người chú là Giang Thượng Thanh, người đã ra nhập ĐCSTQ từ trẻ và sau đó bị bọn cướp bắn chết, nhận làm con nuôi và nuôi dưỡng. Nhờ bịa đặt lý lịch gia đình, ông này mới có thể được thăng chức từ một cán bộ cấp thấp lên Thứ trưởng Bộ Công nghiệp Điện tử chỉ trong vòng có mấy năm. Việc thăng chức của ông không phải là vì có tài, mà là do quan hệ và thiên vị cá nhân. Trong thời kỳ làm Bí thư Thành ủy Thượng Hải, ông Giang đã hết sức nịnh bợ những người lãnh đạo cao cấp của ĐCSTQ như Lý Tiên Niệm và Trần Vân vì hai người này đến Thượng Hải hàng năm vào dịp Tết. Thậm chí, với tư cách là Bí thư Thành ủy Thượng Hải, ông Giang đã từng đích thân đứng đợi trong tuyết dày hàng giờ đồng hồ để tự tay trao bánh sinh nhật cho Lý Tiên Niệm.

Trước năm 1945, khi Hồng quân Liên Xô đánh vào vùng đông bắc Trung Quốc đã thu được toàn bộ tài liệu về hệ thống đặc công của tướng quân người Nhật là Doihara Kenji, trong đó có hồ sơ và hình ảnh liên quan đến việc người Nhật từng huấn luyện cho ông Giang Trạch Dân.

Sau này khi ông Giang Trạch Dân đi Liên Xô du học, tình báo Liên Xô đã điều tra hồ sơ và phát hiện ông từng làm Hán gian, sau đó nhờ nắm được điểm yếu về những mối quan hệ bất chính với phụ nữ Nga của ông Giang nên đã ép ông phải làm Đặc vụ cho Cục Viễn đông của Liên Xô.

Tháng 5/1991, ông Giang Trạch Dân đi thăm Liên Xô với thân phận là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, khi tham quan nhà máy sản xuất ô tô Ligachev, KGB đã “khôn khéo” bố trí ông Giang Trạch Dân tình cờ gặp nữ gián điệp Klava của Liên Xô mà ông Giang có quan hệ trước đây… Ông Giang Trạch Dân không muốn thân phận gián điệp bị lộ, nên cuối cùng đã bị Liên Xô khống chế.

Từ khi cả Nga và Trung Quốc bắt đầu việc khảo sát biên giới chung năm 1991, ông Giang Trạch Dân đã hoàn toàn công nhận kết quả xâm lược Trung Quốc của Nga Hoàng và Liên-xô cũ, và hoàn toàn chấp thuận tất cả những hiệp ước bất công giữa Trung Quốc và Nga kể từ sau Hiệp ước Aigun. Lãnh thổ Trung Quốc khoảng hơn một triệu cây số vuông vì thế mà đã bị Giang vĩnh viễn để mất.

Ngày 9 và 10/12/1999, ông Giang Trạch Dân đã ký với Tổng thống Nga Boris Yeltsin “Nghị định thư về Giới tuyến đông – tây giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên bang Nga”, theo đó đã nhượng hơn 1 triệu km2 lãnh thổ Trung Quốc cho Nga.

Ngày 16/7/2001, ông Giang Trạch Dân lại ký với Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Kremlin – Moscow “Hiệp ước Hợp tác láng giềng tốt Nga – Trung”, theo đó thừa nhận vùng Vladivostok và khu viễn đông bên cạnh không thuộc lãnh thổ Trung Quốc, chấp nhận Hiệp ước bất bình đẳng mà chính quyền các khóa trước của ĐCSTQ đều không thừa nhận.

Ngày 24/3/2016, Blogger Trung Quốc Dongyechangzheng (Dycz.blogchina) đã đăng bài viết “Tannu, Sakhalin, Vladivostok của chúng tôi đang ở đâu?”, theo đó bài viết đã khẳng định lại tội bán nước của ông Giang Trạch Dân mà trước đó nhiều thông tin đã chỉ ra như kể trên.

“Hiệp ước Hợp tác láng giềng tốt Nga – Trung” ngày 16/7/2001 mà ông Giang Trạch Dân ký với Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Kremlin đã hợp pháp hóa hàng loạt Hiệp ước bất bình đẳng giữa chính quyền nhà Thanh và Nga trước đây, trong đó gồm “Hiệp ước Aigun”, “Hiệp ước Bắc Kinh”…

Theo những ký kết, ông Giang Trạch Dân đã chấp nhận trao vĩnh viễn cho Nga một phần lớn diện tích lãnh thổ mà trước đây bị Sa hoàng Nga chiếm đoạt, trong đó bao gồm Khu vực Tannu (khoảng 170.000 km2) mà năm 1953 đã được Liên Hiệp Quốc thừa nhận là vùng lãnh thổ của Trung Quốc, ngoài ra còn “Hiệp ước Aigun” bất bình đẳng về vấn đề 64 làng ở Giang Đông thuộc lãnh thổ Trung Quốc.

Bài viết chỉ ra, trước đây, trong “Điều ước Trung-Nga Nerchinsk” (7/9/1969) rõ ràng đã thừa nhận đảo Sakhalin (76.400 km2, diện tích gấp đôi Đài Loan) cùng cả ngàn hòn đảo xung quanh thuộc về Trung Quốc.

Theo “Điều ước”, ông Giang Trạch Dân đã ký trao hơn 3 triệu km2 lãnh thổ vùng đông bắc đang trong tranh luận chưa rõ ràng để “nhượng lại” cho Nga, ngoài ra còn trao cho Nga phần diện tích cửa sông Tumen đổ ra biển thuộc tỉnh Cát Lâm, làm con đường duy nhất đi ra biển Nhật Bản từ hướng đông bắc Trung Quốc bị chặn đứng.

Sau khi Hiệp ước được ký, truyền thông Nga đã đưa tin ăn mừng nhưng người dân Trung Quốc không hay biết gì, chỉ có một số ít người biết tiếng nước ngoài đã đọc được thông tin và thể hiện tâm trạng phẫn nộ đối với chính quyền.

Những ký kết phi lý của ông Giang Trạch Dân làm người Trung Quốc mất căn cứ pháp luật để đòi Nga trao trả lại phần diện tích lãnh thổ này. Giang Trạch Dân và Tập Cận Bình

_______________________

Phần tiếp theo:

Quyền lực bằng mọi giá

Xuyên suốt quá trình xây dựng và củng cố quyền lực, ĐCSTQ không ngừng sử dụng bạo lực để giải quyết các vấn đề: từ việc giành lấy chính quyền, cho đến khủng bố tinh thần khiến người dân sợ hãi mà chấp nhận tính hợp pháp của chính quyền ấy và sau nữa là để duy trì sự ổn định hay chính xác hơn là duy trì sự thống trị của nó. Do đó, tự thân cái đảng ấy sẽ phải tuyển chọn ứng viên ‘sáng giá’ thừa hưởng di truyền ‘bạo lực’ để “thay ca“. Và Giang Trạch Dân – với sự an bài hoang đường của số mệnh, đến trong mơ cũng không ngờ mình lại là người được chọn để trao lại “ngai vàng”…

giang-trach-dan-600x353

2. Quyền lực bằng mọi giá

2.1 Thảm sát Thiên An Môn – Bước lên đỉnh cao sự nghiệp nhờ ủng hộ bạo lực:

Trong sách “Sự thật về Giang Trạch Dân”, ông Chu Hạnh Thanh, cựu Phó Tổng biên tập báo Kinh tế Thế giới đã kể lại chi tiết về quá trình phát sinh và phát triển của phong trào Thiên An Môn, lột trần vai diễn của ông Giang Trạch Dân trong vở kịch lịch sử này.

Năm 1989, trong thời điểm phong trào sinh viên đòi dân chủ đang lên cao, tờ Kinh tế Thế giới đã có bài đưa tin chi tiết dài 5 trang kể về buổi tọa đàm tưởng nhớ ông Hồ Diệu Bang, trong đó có những câu nhạy cảm phê bình giới lãnh đạo cấp cao chính quyền Trung Quốc. Sau khi ông Giang Trạch Dân, Bí thư Thành ủy Thượng Hải đương nhiệm biết tin đã yêu câu ông Tổng biên tập Khâm Bản Lập phải cắt bỏ những nội dung nhạy cảm. Nhưng bài viết chưa bị cắt bỏ đã được phát hành rộng rãi, những ngôn từ sắc bén nhất đã được truyền ra khiến bầu không khí chính trị đặc biệt căng thẳng.

Ngay sau bài báo, ông Giang Trạch Dân đã đình chỉ chức vụ Tổng biên tập của ông Khâm Bản Lập. Ủy ban thành phố Thượng Hải đã cử Tổ công tác tới phụ trách ban biên tập, tước bỏ quyền tự chủ của tờ báo. “Chữ ký của tôi đã không còn tác dụng, phải có chữ ký của Tổ công tác mới được cho in ấn, còn Tổ công tác thì quyết tâm phải thay đổi hướng làm việc của tờ báo”. Nhưng ông Phó Tổng biên tập Chu Hạnh Thanh không muốn khuất phục nên đã làm trái ý Tổ công tác, trong một kỳ báo ông quyết định cho đăng tiêu đề trên trang nhất là “Chúng ta cần môi trường tự do để kể sự thật!”

Thái độ của ông Giang Trạch Dân đối với tờ Kinh tế Thế giới đã gây làn sóng bất bình trong giới báo chí trên khắp cả nước, một sự kiện chưa từng thấy kể từ khi xây dựng chính quyền ĐCSTQ. Lúc này, phong trào dân chủ đã lan rộng sang nhiều lớp người khác.

Cuối cùng vào khoảng giữa tháng Năm, tờ Kinh tế Thế giới đã bị đình bản. Ông Chu nói: “Nếu tồn tại mà phải giả dối thì đi ngược lại giá trị tồn tại của công tác thông tin, như thế thà không tồn tại nữa còn hơn. Khi đó tôi đã nói: Thà làm ngọc nát chứ không làm ngói lành.”

Theo thông tin, trong sự kiện Thiên An Môn, ông Chu Hạnh Thanh không được đến hiện trường săn tin cùng đồng nghiệp mà phải ngồi tại văn phòng trông ngóng tình hình, khi đó ông đã tính đến trường hợp xấu nhất là quân đội sẽ thực hiện quản chế quân sự, thậm chí còn dùng súng đạn để xử lý…

Sau sự kiện Thiên An Môn, ông Khâm Bản Lập bị quản thúc rồi bị bệnh qua đời, còn ông Chu Hạnh Thanh thì bị loại khỏi hệ thống công chức. Sau này ông Chu Hạnh Thanh chuyển đến Hồng Kông và tiếp tục con đường làm báo, từng làm việc tại VOA, kiên trì đưa tin về tình hình nhân quyền và dân sinh ở Trung Quốc Đại Lục.

Những rối loạn xã hội sau cải cách của Đặng Tiểu Bình

Đầu năm 1989, kế hoạch cải cách kinh tế của ông Đặng Tiểu Bình đã đem lại sức sống mới cho Trung Quốc, nhưng cũng gây ra những rối loạn trong xã hội. Tuy kinh tế Trung Quốc không ngừng phát triển, hàng hóa dồi dào, nhưng số thuế mà chính quyền Trung ương thu được từ các tỉnh lại giảm đi 1/3, còn lạm phát lên đến gần 20%. Ngày càng nhiều doanh nghiệp nhà nước phải đóng cửa khiến hàng chục triệu công nhân rơi vào cảnh thất nghiệp. Tình trạng này khiến cho nhóm lợi ích của thể chế cũ và mới ngày càng mâu thuẫn nhau gay gắt. Một nhóm người giàu lên nhờ giỏi làm buôn bán, trong khi vô số người thuộc các doanh nghiệp nhà nước trước đó bị mất các loại phúc lợi và chế độ hưu trí. Họ biến thành một lớp người mới trong xã hội. Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội ngày càng tăng. Đặc biệt là nhân thời cơ cải cách, giới tham quan lợi dụng quyền hành trong tay cấu kết với gian thương, tình trạng bất công xã hội ngày càng lên cao…

Ngày 8/4, ông Hồ Diệu Bang (người được xem là thuộc phái có lương tâm trong đảng) bất ngờ phát bệnh tim tại một cuộc họp của Bộ Chính trị, sau một tuần thì qua đời. Cái chết của ông Hồ Diệu Bang như giọt nước làm tràn ly.

Các trường đại học nổi tiếng như Bắc Kinh, Thanh Hoa, Sư phạm Bắc Kinh, Chính trị… đều tổ chức hoạt động tưởng niệm ông Hồ Diệu Bang. Hàng ngàn sinh viên tiến về quảng trường Thiên An Môn mang theo vòng hoa đặt trước đài tưởng niệm anh hùng nhân dân. Sinh viên trên toàn quốc hưởng ứng, tổ chức diễu hành và thỉnh nguyện quy mô lớn, những người đi đầu là các giáo sư tóc bạc trắng.

Hòa vào phong trào, hàng triệu người dân Bắc Kinh gồm các cán bộ cơ quan, các phóng viên báo chí ùa nhau kéo ra đường ủng hộ sinh viên. Phóng viên các cơ quan truyền thông Trung ương giơ biểu ngữ “Chúng ta cần sự thật”…

Phóng viên Nhân dân Nhật báo ủng hộ phong trào sinh viên năm 1989
Phóng viên Nhân dân Nhật báo ủng hộ phong trào sinh viên năm 1989

Chỉnh đốn hoạt động đưa tin

Cùng với bài xã luận trên Nhân dân Nhật báo, một mồi lửa khác gây phẫn nộ trong dân chúng chính là hành động trấn áp của ông Bí thư Thành ủy Thượng Hải Giang Trạch Dân đối với tờ Thông tin Kinh tế Thế giới. Nó khiến một nhóm cán bộ kỳ cựu trong đảng hạ quyết tâm phải dùng vũ lực để “ổn định” tình hình. Quá trình ông Giang Trạch Dân xử lý tờ Thông tin Kinh tế Thế giới đã làm hài lòng họ, hành vi này của ông Giang là bước ngoặt khiến phong trào lan rộng.

Bốn ngày sau khi ông Hồ Diệu Bang qua đời (ngày 19/4), các biên tập viên của tờ Kinh tế Thế giới đã tổ chức một buổi thảo luận. Ngày 20/4, Ban Tuyên truyền thành phố Thượng Hải được biết thông tin tờ Thông tin Kinh Thế giới sẽ mở chuyên mục kỷ niệm ông Hồ Diệu Bang. Bà Trưởng ban Tuyên truyền Trần Chí Lập liền thông báo cho ông Giang Trạch Dân biết.

Chiều ngày 21/4, ông Phó Bí thư Thành ủy Thượng Hải Tăng Khánh Hồng đã cùng bà Trần Chí Lập tìm gặp ông Tổng Biên tập Khâm Bản Lập nói chuyện. Ông Khâm Bản Lập nói, chúng tôi sẽ đăng vài trang trong số mới này và sẽ cùng tạp chí “Quan Sát Mới” tổ chức tọa đàm về đồng chí Hồ Diệu Bang vào ngày 19/4 tại Bắc Kinh. Ông Tăng Khánh Hồng và bà Trần Chí Lập yêu cầu được xem bản in thử trước khi xuất bản. Khoảng 8:30 tối ngày hôm sau, sau khi ông Tăng Khánh Hồng xem qua số báo (kỳ 439) thì yêu cầu ông Khâm Bản Lập rút gọn còn 500 chữ, chủ đề tập trung vào những phát biểu của ông Đới Tinh và Nghiêm Gia Kỳ thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc.

Ông Khâm Bản Lập nói: “Xảy ra chuyện gì thì tôi chịu trách nhiệm, dù sao đồng chí Giang Trạch Dân cũng không xem qua bản in thử. Nếu có hậu quả gì thì Thành ủy và Ban Tuyên truyền cũng không chịu trách nhiệm.”

Ông Giang Trạch Dân cũng không ngờ ông Khâm Bản Lập lại cứng rắn như thế, liền cùng ông Tăng Khánh Hồng đưa chuyện đến ông Giám đốc danh dự của tờ báo là Uông Đạo Hàm. Có ông Uông Đạo Hàm ủng hộ, ông Giang Trạch Dân yêu cầu ông Khâm Bản Lập phải sửa bản in thử. Ông Uông Đạo Hàm cũng dùng nguyên tắc Đảng để gây áp lực với ông Khâm Bản Lập. Trong lúc ông Giang Trạch Dân và Uông Đạo Hàm đang khuyên ông Khâm Bản Lập thì phát hiện hàng trăm ngàn tờ báo đã in xong, có 400 tờ đã tung ra các sạp báo. Ngoài ra, một số lượng tương đương cũng đang được gửi tới Bắc Kinh, cuối cùng chỉ thu hồi lại được 20 nghìn tờ.

Sáng ngày 22/4, lễ truy điệu ông Hồ Diệu Bang được tổ chức tại Đại Lễ đường Nhân dân, Chủ tịch nước Dương Thượng Côn chủ trì nghi lễ, hầu hết các lãnh đạo cấp cao đều tham gia. Tại Thượng Hải, ông Giang Trạch Dân phản đối tưởng niệm ông Hồ Diệu Bang, nhưng mặt khác lại gửi vòng hoa đến lễ tưởng niệm tại Bắc Kinh.

Ngày 26/4, Nhân dân Nhật báo đăng bài xã luận cho rằng phải kiên quyết chống lại tình trạng rối loạn, bài viết đúng ý của ông Giang Trạch Dân, sau đó ông Giang triệu tập gấp cuộc họp kéo dài đến tận 1 giờ sáng, đề nghị phải có biện pháp quyết đoán. Cùng ngày, tại một hội nghị lớn với sự tham gia của hàng ngàn đảng viên, ông Giang tuyên bố đình chỉ chức vụ lãnh đạo của ông Khâm Bản Lập và quyết định phải chỉnh đốn lại tờ Kinh thế Thế giới.

Ngày 27/4, ông Giang Trạch Dân điều “Tổ lãnh đạo chỉnh đốn thành phố Thượng Hải” do ông Lưu Cát và bà Trần Chí Lập phụ trách về làm nhiệm vụ tại tờ Kinh tế Thế giới. Bà Trần Chí Lập đã cho giải tán đội ngũ nhân viên của tờ báo, ngoài ra còn cấm biên tập viên không được tham gia hoạt động báo chí nữa.

Khi ông Khâm Bản Lập bị ung thư kỳ cuối không ra khỏi giường được, bà Trần Chí Lập vừa đi đến phòng bệnh của ông Khâm Bản Lập vừa cười. Bà Trần không phải đến để thăm bệnh, bà ta đến để đọc quyết định xử phạt kỷ luật Đảng ông Khâm Bản Lập.

Câu chuyện ông Giang Trạch Dân và thân tín ra tay thô bạo với tờ Kinh tế Thế giới đã khiến hệ thống truyền thông khắp cả nước lên tiếng chỉ trích. Ngay ngày hôm sau đã diễn ra biểu tình quy mô lớn tại Thượng Hải yêu cầu phục hồi lại chức vụ cho ông Khâm Bản Lập và nêu cao khẩu hiệu tự do ngôn luận. Nhiều nhân sĩ nổi tiếng trong giới truyền thông và giới trí thức đã gọi điện cho ông Giang Trạch Dân yêu cầu phải thu hồi lại quyết định xử lý.

Trước tòa nhà hành chính thành phố, giới sinh viên tụ tập đông đúc hô vang khẩu hiệu, số sinh viên ước tính lên đến hơn 8.000 người. Có thể nói là đợt biểu tình có quy mô lớn nhất của giới sinh viên Thượng Hải.

Sự kiện làm ông Giang Trạch Dân bắt đầu sợ hãi. Ông ta phải thừa nhận “hậu quả nghiêm trọng ngoài dự tính”. Thực tế, hành vi của ông Giang không những dẫn đến hoạt động thị uy ở Thượng Hải mà còn lan rộng ở cả Bắc Kinh.

Tối ngày 27/4, ông Giang Trạch Dân lo lắng gọi điện thoại hơn 40 phút cho ông Lý Nhuệ, cựu Phó Trưởng ban tổ chức Trung ương, khi đó là Ủy viên Ủy ban Tư vấn Trung ương. Ông ta cầu xin ông Lý Nhuệ nhờ bạn bè ở Bắc Kinh giúp đỡ, đồng thời cũng dò hỏi tình hình ở Bắc Kinh. Ông Giang còn than thở với ông Lý Nhuệ rằng bị suy sụp tinh thần.

Ngày 30/4, ông Tổng Bí thư Triệu Tử Dương đi thăm Triều Tiên trở về, ngay tối hôm đó ông Giang Trạch Dân và Tăng Khánh Hồng bay đến Bắc Kinh để báo cáo công việc với ông Triệu Tử Dương và xin ý kiến. Ông Triệu Tử Dương sau khi nghe xong, cho rằng ông Giang Trạch Dân xử lý chuyện nhỏ hóa lớn tự đưa mình vào ngõ cụt. Theo một người chứng kiến sự việc tiết lộ, khi đó ông Giang Trạch Dân mặt thẫn thờ, lặng người cả chục phút ngơ ngác nhìn theo hình bóng ông Triệu Tử Dương.

Dĩ nhiên, ông Triệu Tử Dương quá bất mãn với cách xử lý công việc của ông Giang, lời của ông Triệu thốt ra làm tâm trí ông Giang hoảng loạn. Sau đó ông ta còn đi khắp nơi dò la thông tin xem thái độ của các quan to trong đảng thế nào. Từ đây ông Giang biết được Trung ương cũng có nhiều chia rẽ, lời của ông Triệu Tử Dương không đại biểu cho tinh thần của Trung ương.

Thế rồi hơn 600 sinh viên (chủ yếu từ Đại học Bắc Kinh) bắt đầu đến quảng trường Thiên An Môn tuyệt thực kháng nghị, phóng viên các nước đặc biệt chú ý sự kiện này, họ chỉ trích ông Giang Trạch Dân phá hoại nền tảng pháp luật. Tại Thượng Hải, hơn 4.000 sinh viên đến tụ tập trước Ủy ban thành phố yêu cầu ông Bí thư ra mặt. Nhưng ông Giang không dám xuất hiện. Thái độ của ông ta càng thúc đẩy tinh thần phản kháng của sinh viên. Tại buổi họp của Bộ Chính trị vào khoảng giữa tháng Năm, cuộc tranh luận trong nội bộ đảng càng căng thẳng, ông Triệu Tử Dương tuyên bố, sự kiện tờ Kinh tế Thế giới do Thành ủy Thượng Hải gây ra, vì thế họ phải giải quyết. Việc ông Triệu Tử Dương công khai điểm danh ông Giang Trạch Dân, người được lòng ông Trần Vân và ông Lý Tiên Niệm, đã khiến bầu không khí trong đảng càng thêm căng thẳng.

Một sự kiện nữa gây bối rối cho giới lãnh đạo Trung Quốc đương nhiệm khi đó là sự kiện ông Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev bay đến thăm Bắc Kinh…

Cuộc họp của Bộ Chính trị hoàn toàn thất bại, ông Triệu Tử Dương có lẽ cũng thầm dự tính được sắp tới sẽ phải đối diện với chuyện gì, ông tiến vào quảng trường Thiên An Môn nhìn những sinh viên tuyệt thực mà không cầm được nước mắt. Khoảng 10 giờ tối hôm đó, ông Lý Bằng lên tiếng nhắc lại lập trường của Trung ương Đảng sẽ “trừng phạt nghiêm những đối tượng muốn làm loạn”. Nửa đêm hôm đó, một hồi còi lớn vang lên tuyên bố lệnh giới nghiêm tại quảng trường Thiên An Môn.

Vào 2 giờ sáng ngày 20, không lâu sau khi nói chuyện với ông Lý Bằng, ông Giang Trạch Dân lập tức cho đánh điện báo biểu thị thái độ kiên quyết ủng hộ lập trường của Trung ương. Động thái kịp thời của ông Giang rất được lòng những nguyên lão trong đảng, họ cảm thấy như tìm được người “thay ca” đáng tin cậy. Vào ngày 20/5, các nguyên lão đã họp và có quyết định, ông Giang Trạch Dân sẽ trở thành Tổng Bí thư trong nhiệm kỳ mới.

Thẳng tay xả súng và nghiền người dân dưới bánh xe tăng có phải "ổn định là ưu tiên hàng đầu"?
Thẳng tay xả súng và nghiền người dân dưới bánh xe tăng có phải “ổn định là ưu tiên hàng đầu”?

Giang Trạch Dân hưởng lợi nhiều nhất nhờ thảm sát Thiên An Môn

Ông Giang Trạch Dân đã 63 tuổi, vốn dự tính sau hai năm công tác nữa sẽ nghỉ hưu, sau đó sẽ đến giảng dạy tại Đại học Giao thông Thượng Hải, ngôi trường cũ của ông ngày xưa. Nhưng không ngờ, ông Đặng Tiểu Bình lại giao cho chức Tổng Bí thư khiến ông Giang Trạch Dân hoàn toàn bất ngờ, vậy là ông Giang trở thành người được hưởng lợi nhiều nhất trong sự kiện Thiên An Môn.

Tại buổi gặp vào một ngày gần cuối tháng 5/1989, ông Đặng Tiểu Bình đã khen ngợi cách xử lý của ông Giang đối với tờ Kinh tế Thế giới, đồng thời nói công tác đón tiếp Gorbachev ở Thượng Hải làm tốt hơn ở Bắc Kinh. Lúc này ông Giang thở phào nhẹ nhõm, trong lòng thầm nghĩ thật may đã không nghe lời ông Triệu Tử Dương, nếu không hậu quả không biết như thế nào.

Sau đó, ông Đặng Tiểu Bình muốn ông Giang Trạch Dân đón ông Vạn Lý (Ủy viên trưởng Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc) trong chuyến đi thăm Canada về nước trước thời hạn dự tính. Họ sẽ cho máy bay chở ông Vạn Lý đáp xuống Thượng Hải, nhiệm vụ của ông Giang là khuyên ông Vạn Lý chấp nhận chủ trương của các nguyên lão, nếu không thì không cho về Bắc Kinh. Ông Đặng Tiểu Bình giải thích, do khi đó có 57 Ủy viên Thường vụ Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc yêu cầu mở Hội nghị thảo luận về tuyên bố của ông Lý Bằng liên quan tính hợp pháp của lệnh giới nghiêm ở Bắc Kinh. Nếu để ông Vạn Lý về kinh chủ trì hội nghị thì tình hình vô cùng bất lợi cho họ và cục diện rất khó kiểm soát. Ông Đặng Tiểu Bình nói bóng gió đây là thử thách đầu tiên của Trung ương đối với ông Giang, nếu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sẽ là bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp chính trị.

Ngày 23/5, ông Giang trở lại Thượng Hải, khoảng 3 giờ chiều ngày 25/5, máy bay chở ông Vạn Lý đáp xuống sân bay Thượng Hải, ông Giang ra đón và chuyển lại bức thư của ông Đặng Tiểu Bình. Ông Vạn Lý là bạn chơi bài brit của ông Đặng, trong thư ông Đặng cầu xin ông Vạn Lý niệm tình bạn bè giúp đỡ trong thời khắc quan trọng này.

6 ngày ở lại Thượng Hải là 6 ngày đau khổ của ông Vạn Lý, ông Giang được lệnh phải giữ ông Vạn Lý ở lại Thượng Hải. Ngày 27/5, ông Vạn Lý đã lên tiếng chấp nhận với lệnh giới nghiêm. Hành động áp bức của ông Giang đối với ông Vạn Lý, về mặt chiến lược chính là đã chặt đứt cánh tay của ông Triệu Tử Dương.

Cùng ngày 27/5, ông Đặng Tiểu Bình mời 8 vị nguyên lão cùng họp để quyết định chức vụ Tổng Bí thư. Ban đầu ông Đặng Tiểu Bình đề nghị ông Kiều Thạch và Lý Thụy Hoàn, nhưng việc ông Trần Vân đưa thêm ông Giang Trạch Dân vào danh sách, và ý kiến của ông Lý Tiên Niệm cùng ông Bạc Nhất Ba là bước ngoặt quan trọng để ông Đặng Tiểu Bình chọn dùng ông Giang Trạch Dân. Ông Lý Tiên Niệm nói: “Giang Trạch Dân tuy thiếu kinh nghiệm làm việc ở Trung ương nhưng là người có đầu óc chính trị, đang ở độ tuổi sung sức, có thể tín nhiệm được.”

Vậy là dòng lịch sử hoang đường đã đưa ông Giang lên đỉnh sự nghiệp chính trị, trở thành kẻ được lợi lớn nhất trong sự kiện thảm sát tại Thiên An Môn.

Che giấu sự thật, không cho phép lật lại bản án

Cho dù sự kiện ngày 4/6/1989 đã qua nhiều năm và ông Giang Trạch Dân luôn muốn xóa sạch ký ức về nó trong tâm trí mọi người, nhưng hàng năm, cứ đến ngày này, hình ảnh và các bài viết để tưởng nhớ những người đã hy sinh oan uổng vẫn được đăng tải. Đây là điều mà ông Giang Trạch Dân không muốn nhìn thấy. Vào năm 2002, khi ông Giang miễn nhiệm chức Tổng Bí thư và Chủ tịch nước, ông đã đưa ra một số quy tắc cho các Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, trong đó có quy tắc “không được nhắc lại sự kiện Thiên An Môn”.

Trong khoảng hơn một năm sau khi xảy ra sự kiện Thiên An Môn, ông Giang Trạch Dân đã ra lệnh điều tra về những người ủng hộ sinh viên và phản đối trấn áp, mục đích để “quét sạch mọi dấu vết”. Quan cảnh khủng bố chính trị khiến đề tài về sự kiện Thiên An Môn trở nên đặc biệt nhạy cảm ở Trung Quốc sau đó.

Khi một phóng viên người Pháp hỏi lại chuyện nữ nghiên cứu sinh bị cưỡng hiếp tập thể trong khi đang bị giam giữ vì sự kiện Thiên An Môn, câu trả lời của ông Giang đã gây chấn động thế giới: “Cô ta xứng đáng bị như thế!”

Vì muốn xóa sạch ký ức trong lòng người dân Trung Quốc, ông Giang Trạch Dân đã ra lệnh xây dựng một chương trình truyền hình nhằm vu khống và bôi nhọ giới sinh viên. Thậm chí ông còn cho đốt nhiều xe quân đội và ghi hình lại, khiến người dân Trung Quốc tin tưởng, nhằm biện minh cho hành động nổ súng của quân đội. Thủ đoạn này đã khiến nhiều người không tham gia sự kiện này tin vào tuyên truyền của nhà nước.

Hơn 20 năm đã qua đi, mọi người hầu như đều biết sự thật về việc này. Đoạn phim đốt xe quân đội mà truyền thông Trung Quốc đưa tin hoàn toàn là do quân đội tự biên tự diễn. Họ đưa những chiếc xe cũ đến đường Tây Trường An, sau đó huy động nhiều cảnh sát đóng giả sinh viên phóng hỏa đốt xe và quay phim lại. Từ đây, họ vu oan cho người dân và sinh viên để biện minh cho hành động nổ súng trấn áp. Ngày càng nhiều người trong quân đội tham gia vở kịch này đã âm thầm tiết lộ bí mật.

______________________

Phần tiếp theo:

Lịch sử cho thấy những vị lãnh đạo của ĐCSTQ rất thích sử dụng các cuộc vận động để làm nổi bật tên tuổi và củng cố địa vị.

Mao Trạch Đông từng tuyên bố “Tần Thủy Hoàng đáng kể gì? Ông ta chỉ giết có 46 chục Nho sĩ. Còn chúng ta đã giết 46 ngàn thằng trí thức hủ nho ấy chứ. Có kẻ chửi chúng ta là độc tài thống trị, là Tần Thuỷ Hoàng thời nay. Chúng ta thừa nhận hết, rằng rất đúng sự thực. Nhưng chúng bay nói thế chưa đủ, chúng ta phải nói thêm rằng thực ra còn hơn thế”.

Đặng Tiểu Bình khi quyết định thảm sát Thiên An Môn đã nói “Chúng ta sẽ giết 200 nghìn người để đổi lấy 20 năm ổn định”. Còn Giang Trạch Dân khi đã ở trên đỉnh cao quyền lực, từng tuyên bố “đảng phải chiến thắng Pháp Luân Công” từ đó đưa ra chính sách “bôi nhọ thanh danh, vắt kiệt tài chính, hủy hoại thân thể” nhằm ép người theo Pháp Luân Công từ bỏ tu luyện.

giang-trach-dan-tap-can-binh

 2. Quyền lực bằng mọi giá:

2.1 Thảm sát Thiên An Môn – Bước lên đỉnh cao sự nghiệp nhờ ủng hộ bạo lực (Xem bài trước)

2.2 Đàn áp Pháp Luân Công – Khi cái ác đã lên đến đỉnh điểm

Hoàn cảnh dẫn đến cuộc đàn áp

Cuộc thảm sát Thiên An Môn năm 1989 đã đưa ông Giang Trạch Dân đến vị trí quyền lực tối cao nhờ tắm máu sinh viên. Nhưng vào những năm cuối cùng của thập niên 90 thuộc thế kỷ trước, Trung Quốc bước vào giai đoạn “mùa thu nhiều sự kiện”. Năm 1997, ông Đặng Tiểu Bình qua đời. Năm 1998, thị trường tài chính châu Á có nhiều diễn biến quyết liệt, làm cho cuộc cải cách nội bộ của ĐCSTQ gặp nhiều khó khăn. Không những thế, trận lụt lớn vào năm 1998 khiến đời sống của người dân trở nên điêu đứng, làn sóng phản đối đàn áp của xã hội quốc tế nhắm vào ĐCSTQ đang lên cao.

Thêm vào đó, tháng 3/1998 ông Chu Dung Cơ lên làm Thủ tướng đã thề phải điều tra tường tận tham quan… Tất cả những điều này khiến cho người cầm quyền đương thời là ông Giang Trạch Dân đứng ngồi không yên trên chiếc “ngai vàng” đầy bất ổn.

Trong thời gian mới nhậm chức, ông Chu Dung Cơ từng phát biểu: “Bất kể là phía trước mặt có bom mìn hay kể cả vực sâu, tôi đều một mực bước tới, quyết không quay đầu lại”. “Tôi ở đây đã chuẩn bị một trăm chiếc quan tài, 99 chiếc là tặng cho các quan tham, một chiếc là dành cho mình.”

Cùng năm đó, ông Chu Dung Cơ nhận được bức thư với 30.000 chữ ký tố cáo vụ án buôn lậu tại công ty Viễn Hoa, được nhận định là vụ án buôn lậu lớn nhất kể từ khi ĐCSTQ lên nắm quyền từ năm 1949 đến thời điểm đó. Người diễn vai trước màn sân khấu là ông Lại Xương Tinh, người đứng sau cánh gà là ông Giả Khánh Lâm và ông Giang Trạch Dân. Vụ án này đã làm thất thoát đến 83 tỷ nhân dân tệ tiền thuế. Số cán bộ bị cách chức, điều tra, bắt giữ, xét xử đã lên tới hàng ngàn, trong đó có rất nhiều cán bộ cấp tỉnh, cấp bộ, số người lãnh án tử hình có đến hơn 20 người.

Ông Lại Xương Tinh lúc còn ở Canada đã từng tiết lộ, ông ta được ông Giả Đình An (nguyên là thư ký của ông Giang Trạch Dân) và ông Giả Khánh Lâm (Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phúc Kiến) ủng hộ nên mới có thể buôn lậu trót lọt một lượng lớn dầu khí, xe cộ và các vật tư mang tính chiến lược. Bấy giờ, “Viễn Hoa án” đã trở thành ngòi nổ đầy nguy hiểm mà ông Giang Trạch Dân phải tìm mọi cách để di chuyển mục tiêu.

Sau này, tạp chí Tranh Minh của Hồng Kông vào tháng 4 năm 2014 có bài phân tích, thì ý đồ của ông Chu Dung Cơ lúc đó là định lợi dụng vụ án này để bức ông Giang Trạch Dân từ chức, “đổi một Bí thư có tư tưởng cải cách” mà không nhất thiết phải do ông Chu lựa chọn. Tuy nhiên, giữa thời khắc tòa thành Giang phái sắp đổ sụp, “quân sư” Tăng Khánh Hồng đã nhanh chóng ứng đối, hiến kế “xây dựng kẻ địch giả tưởng”, phương hướng sẽ nhắm vào các đoàn thể tín ngưỡng tôn giáo. Trong giai đoạn đầu phải tìm được một “mục tiêu tấn công trung tâm”, cuối cùng đã chọn được môn khí công là Pháp Luân Công.

Chu Dung Co Giang Trach Dan
Ông Chu Dung Cơ (trái) và ông Giang Trạch Dân (phải)

Lúc bấy giờ tại Trung Quốc, Pháp Luân Công được ông Lý Hồng Chí truyền ra công chúng từ năm 1992, đến năm 1996 theo thống kê của nhà nước đã có hơn 70 triệu người theo tập. Người tập Pháp Luân Công luyện 5 bài khí công mỗi ngày và sống theo nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn. Sáng sáng tại các công viên hoặc sân bãi của nhà xưởng, hàng ngàn người cùng nhau luyện Pháp Luân Công. Thành phần tham gia đa dạng từ bình dân đến thượng tầng, từ nông dân, tiểu thương, học sinh, sinh viên, doanh nhân, viên chức nhà nước đang còn tại vị và đã về hưu, cho đến các lãnh đạo cấp cao trong đảng cũng tập Pháp Luân Công.

Tập Pháp Luân Công tại Trung Quốc trước tháng 7/1999.
Tập Pháp Luân Công tại Trung Quốc trước tháng 7/1999.
Tập Pháp Luân Công tại Trung Quốc trước tháng 7/1999.
Tập Pháp Luân Công tại Trung Quốc trước tháng 7/1999.

Tại thời điểm đó ở Trung Quốc chỉ có Pháp Luân Công là có sức ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến toàn xã hội. Phong trào luyện khí công đã lan rộng từ dân thường cho đến chính phủ. Tên tuổi của Pháp Luân Công và người sáng lập là ông Lý Hồng Chí được ca ngợi và lưu truyền khắp nơi bởi hiệu quả chữa bệnh kỳ diệu và giúp nâng cao đạo đức xã hội.

Thời ấy, đi đâu cũng nghe người dân bàn tán về môn khí công này cùng những lợi ích mang lại thay vì phải ngợi ca người lãnh đạo cao nhất trong ĐCSTQ. Thêm nữa, số người theo tập Pháp Luân Công đã vượt xa số đảng viên ĐCSTQ khiến sự đố kỵ của ông Giang Trạch Dân dâng cao đến mụ mẫm đầu óc. Lúc này ông Giang mới nhận ra rằng, suốt 10 năm kể từ nắm quyền nhờ đàn áp Thiên An Môn, tên tuổi của ông không được đánh bóng bởi bất kỳ một cuộc vận động nào khác. Mặt khác, đối với các vị lãnh đạo độc tài, việc người dân quá tin theo một tín ngưỡng nào đó cũng là điều đáng lo ngại vì họ không thể khống chế đầu não của những người có đức tin. Một điều căn bản nữa là, nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn mà Pháp Luân Công theo đuổi đi ngược lại với lý tưởng chính trị của ĐCSTQ.

Tất cả những điều này cộng với bối cảnh rối ren và bấp bênh như đã mô tả ở vụ án “Viễn Hoa án” khiến ông Giang hiểu rằng, để có thể giữ vững và củng cố địa vị quyền lực, một lần nữa bạo lực phải được dùng đến như cách mà các vị lãnh đạo ĐCSTQ vẫn hay làm và cũng đúng với bản chất con người của ông.

Như vậy có 4 lý do chính khiến ông Giang Trạch Dân quyết định đàn áp Pháp Luân Công:

  1. Nỗi sợ hãi của nhà độc tài có đầu óc hoang tưởng trước sự phát triển và phổ biến nhanh chóng của Pháp Luân Công;
  2. Tâm đố kỵ to lớn của chính nhà độc tài đó trước việc Pháp Luân Công được quần chúng yêu thích;
  3. Sự xung đột cố hữu giữa lý tưởng chính trị độc ác của chế độ và thứ hoàn toàn trái ngược với nó — các nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn của Pháp Luân Công;
  4. Bản chất của chế độ ĐCSTQ, đó là để duy trì sự tồn tại của chính nó thì cứ định kỳ phải gán nhãn cho một bộ phận nhỏ quần chúng nhân dân là “kẻ thù giai cấp” để “đấu tranh” chống lại họ.

Chính vì thế, ông Giang Trạch Dân và ông Tăng Khánh Hồng đã lợi dụng sự kiện “Ngũ Bát” (tức sự kiện ngày 8 tháng 5 năm 1998, đại sứ quán Trung Quốc tại Nam Tư bị máy bay quân đội Mỹ oanh tạc nhầm), để lung lạc toàn bộ hệ thống chính trị ĐCSTQ, đồng thời đến tháng 7 cùng năm thì công khai trấn áp phong trào Pháp Luân Công.

Một người cơ hội và chuyên quyền như ông Giang Trạch Dân không thể dung nạp “Chân, Thiện, Nhẫn” của Pháp Luân Công, điểm này đã bị Bí thư Ủy ban Chính trị và Pháp luật đương nhiệm, Ủy viên bộ Chính trị La Cán chộp được, ông ta cho rằng đây là cơ hội lớn để ông ta có thể tận dụng các nguồn lực chính trị và có thể trèo lên cao. Vì mục đích leo lên chiếc ghế Ủy viên Thường trực Bộ Chính trị, ông La Cán luôn tìm kiếm cơ hội để có thể thương lượng với ông Giang Trạch Dân. Cuối cùng, người đầu tiên lựa chọn việc bức hại Pháp Luân Công chính là ông La Cán.

Năm 1997, ông La Cán lệnh cho Bộ Công an ĐCSTQ phải tiến hành một cuộc điều tra nội bộ đối với Pháp Luân Công, để quyết định Pháp Luân Công có phải là một “tà giáo” hay không, cuộc điều tra đã phải tạm dừng vì không có chứng cớ. Ngày 21/7/1998, Văn phòng số 1 của Bộ Công an Trung Quốc phát hành thông tư số 555/1989 với tựa đề “Chú ý về điều tra Pháp Luân Công”cùng lời tuyên bố Pháp Luân Công là một tà giáo, tất cả các điều tra viên phải tìm ra được bằng chứng nhằm chứng minh lời tuyên bố trên. Thông tư này đã khiến lực lượng công an trên toàn quốc ra quân đàn áp, giải tán các điểm luyện công dù không có bất kỳ chứng cứ phạm pháp nào của người luyện công. Theo nguồn tin được biết, người tu Pháp Luân Công đã bị nghe lén điện thoại, bị trộm tài sản và bị lục soát nhà, những điểm luyện công đã bị nhân viên của Cục An ninh phá hoại.

Kết quả điều tra của chính quyền

Do sự phát triển nhanh và tầm ảnh hưởng ngày càng rộng của Pháp Luân Công, nhiều người đã gửi thư phản ánh vấn đề hành xử phi pháp của công an đối với Pháp Luân Công. Tháng 5/1998, Tổng cục Thể thao thực hiện kế hoạch điều tra toàn diện đối với Pháp Luân Công. Đến tháng 9/1998, Tổ Chuyên gia Y học tiến hành điều tra lấy mẫu đối với 12.553 người tập Pháp Luân Công ở tỉnh Quảng Đông, kết quả cho thấy hiệu quả trị bệnh khỏe người của Pháp Luân Công là 97,9%.

Ngày 20/10, Tổ trưởng Tổ Điều tra do Tổng cục Thể thao phái đến Trường Xuân và Cáp Nhĩ Tân đã phát biểu: “Chúng tôi nhận thấy Pháp Luân Công rất tốt, giúp xã hội ổn định, góp phần nâng cao đời sống tinh thần xã hội rất rõ rệt”. Việc điều tra ở Bắc Kinh và Đại Liên cũng cho kết quả tương tự.

Nửa cuối năm 1998, một nhóm cán bộ hưu trí do ông cựu Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Kiều Thạch dẫn đầu đã thực hiện điều tra tìm hiểu về Pháp Luân Công và đi đến kết luận rằng Pháp Luân Công hoàn toàn có lợi cho quốc gia, đồng thời giao báo cáo điều tra cho ông Giang Trạch Dân. Ông Kiều Thạch viết “Pháp Luân Công đối với đất nước và nhân dân chỉ có trăm điều lợi mà không có một điều hại” vào báo cáo điều tra và còn ghi thêm rằng “được lòng dân là được thiên hạ, mất lòng dân là mất thiên hạ”.

Tháng 2/1999, Tạp chí “US News and World Report”, một tạp chí uy tín của Mỹ, đã đăng bài viết nói về lợi ích đối với sức khỏe của Pháp Luân Công: “Cục trưởng Tổng cục Thể thao Quốc gia nói: Pháp Luân Công và những môn khí công khác giúp mỗi người tiết kiệm chi phí khoảng 1000 Nhân dân tệ mỗi năm. Nếu có 100 triệu người luyện công thì tiết kiệm được 100 tỷ Nhân dân tệ mỗi năm. Ông Chu Dung Cơ đã bày tỏ tâm trạng vui mừng vì thông tin này”.

Sự kiện 25.4 – Gài bẫy người tu Pháp Luân Công

Vì không tìm được lý do để chính thức đàn áp Pháp Luân Công, ông La Cán và thân thuộc là ông Hà Tộ Hưu, hai người đã tính toán sẽ tiến hành một vài sự kiện nhằm kích động người tu Pháp Luân Công, sau đó chỉ dẫn cho họ đến Bắc Kinh thỉnh nguyện, đồng thời chỉ huy cảnh sát dẫn họ “bao vây” Trung Nam Hải, từ đó làm chấn động cả một cơ tầng của ĐCSTQ, lấy đó làm cớ để đàn áp thẳng tay.

Ngày 11/4/1999, ông Hà Tộ Hưu đã viết bài đăng trên tạp chí của Học viện Giáo dục Thiên Tân bôi nhọ, vu khống Pháp Luân Công. Bài viết nhắc lại sự kiện Đài Truyền hình Bắc Kinh lên án Pháp Luân Công vào năm 1998. Do sự cố Đài Truyền hình Bắc Kinh trước đây đã được làm rõ, bài viết đã bị hệ thống tuyên truyền ở Bắc Kinh ngăn chặn, một số người tu Pháp Luân Công ở Thiên Tân cho rằng phải lên tiếng với cơ quan chức năng liên quan làm rõ sự thật để ngăn chặn ảnh hưởng xấu của bài viết.

Vì thế, ngày 18 – 24/4, nhiều người tu Pháp Luân Công đã phản ánh tình hình lên Học viện Giáo dục Thiên Tân và cơ quan liên quan khác.

Trong hai ngày 23 và 24, công an Thiên Tân đã trấn áp những người đi phản ánh tình hình, nhiều người bị trọng thương, 45 người bị bắt. Khi yêu cầu thả người, chính quyền thành phố Thiên Tân thông báo nếu không được Bắc Kinh đồng ý thì những người tu Pháp Luân Công bị bắt sẽ không được thả.

Công an Thiên Tân còn gợi ý: “Mọi người hãy đi Bắc Kinh đi, chỉ có Bắc Kinh mới giải quyết được chuyện này”.

Sau khi tin tức truyền đi, những người tu Pháp Luân Công ở các vùng lân cận thành phố Bắc Kinh đã quyết định vào ngày 25 tháng 4 sẽ đến thủ đô.

Sáng 25/4, hơn 10 ngàn người tu Pháp Luân Công từ khắp nơi đổ về trung tâm thành phố Bắc Kinh. Lúc đầu lực lượng cảnh sát kéo về Thiên An Môn dự tính ngăn cản, nhưng sau đó cảnh sát lại dẫn đường cho mọi người tiến vào Trung Nam Hải, cuối cùng hình thành điều mà chính quyền mô tả là “cuộc tổng tấn công Trung Nam Hải”.

Nhiều người tham gia kháng nghị làm chứng họ là đi tự phát chứ không có tổ chức, không có khẩu hiệu, biểu ngữ. Theo hướng dẫn của cảnh sát mọi người chỉ đứng yên tĩnh, trật tự theo vòng vây hai bên cổng chính của Trung Nam Hải. Không ai nghi ngại gì, làm đúng hướng dẫn của cảnh sát.

Người đi thỉnh nguyện xếp hàng trật tự theo hướng dẫn của cảnh sát. Hoàn toàn không có biểu ngữ, khẩu hiệu.
Người đi thỉnh nguyện xếp hàng trật tự bên ngoài tường thành Trung Nam Hải vào ngày 25/4/1999 theo hướng dẫn của cảnh sát. Hoàn toàn không có biểu ngữ, khẩu hiệu. Nhiều người đọc sách trong khi chờ đợi.

Khoảng 8 giờ sáng ngày 25/4, một nhóm người do Thủ tướng Chu Dung Cơ dẫn đầu đi ra từ cửa tây Trung Nam Hải và đến trước khu vực kháng nghị. Ông chỉ 3 người người tu Pháp Luân Công vào nói chuyện và bảo việc mọi người phản ánh ông đã có chỉ thị xử lý rồi. Sau đó mới hay ông La Cán đã ém đi. Ý thức được tình hình, ông Chu Dung Cơ giao cho Cục Xử lý Khiếu nại nói chuyện với họ.

Đến hơn 8 giờ tối thì hội đàm mới kết thúc. Sau khi được biết những người tu Pháp Luân Công ở Thiên Tân đã được thả, đám đông kháng nghị ở Trung Nam Hải cũng nhanh chóng giải tán. Hiện trường kháng nghị rất sạch sẽ.

Tối ngày 25/4, ông Giang Trạch Dân đã viết thư gửi cho Ủy ban Thường trực bộ Chính trị và các nhân vật có liên quan, bắt đầu cuộc “giăng lưới giăng dây” đối với Pháp Luân Công, ngày hôm sau ông Giang còn nổi cơn lôi đình trong cuộc họp của Ủy ban Thường trực.

Tác giả Kuhn trong chương 22 cuốn “Truyện về Giang Trạch Dân” viết “sao lại như vậy?” Ông Giang Trạch Dân lớn tiếng hỏi người bạn thân tín là Thẩm Vĩnh Ngôn, “Pháp Luân Công sao chỉ trong vòng một đêm mà dám đứng ra như vậy? Chẳng lẽ là bọn chúng từ dưới đất chui lên sao? Bộ Công an của chúng ta ở đâu? Bộ An ninh của chúng ta ở đâu?”

Cũng trong đêm hôm đó, ông Giang tiếp tục viết một bức thư gửi cho các lãnh đạo cấp cao với một lời lẽ vô cùng nghiêm trọng. Ông ta nói “Pháp Luân Công chính là tà giáo”. “Tôi không tin là chủ nghĩa Marxist thắng không nổi Pháp Luân Công.”

Sau cuộc thỉnh nguyện ngày 25/4, ông Giang Trạch Dân đã triệu tập một cuộc họp của Ủy ban Thường trực nhằm trưng cầu việc công kích Pháp Luân Công, nhưng những quan chức nằm trong Ủy ban Thường trực Bộ Chính trị lúc bấy giờ như các ông Chu Dung Cơ, Hồ Cẩm Đào, Lý Thụy Hoàn, Úy Kiến Hành, Lý Thanh Phong đều bỏ phiếu phản đối, chỉ có ông Lý Bằng là bỏ phiếu trắng, kế hoạch của ông Giang lại một lần nữa bị Bộ Chính trị làm cho phá sản.

Trong cuộc họp, ông Chu Dung Cơ đã nói: “Mong ước lớn nhất của họ chỉ là để trở nên khỏe mạnh… Vì vậy tôi nghĩ rằng không có lý khi lập luận rằng những người này có tham vọng chính trị. Hơn nữa, chúng ta không thể quay trở lại việc giải quyết các vấn đề tư tưởng bằng các cuộc vận động chính trị được. Việc này không tốt cho mục đích chính của chúng ta trong phát triển kinh tế, và còn tồi tệ hơn cho hình ảnh mở cửa của Trung Quốc.”

Ông Giang Trạch Dân “một lúc sau liền đứng dậy”, chỉ vào mũi ông Chu Dung Cơ mà hét “Hồ đồ! Hồ đồ! Hồ đồ! Mất nước mất đảng! Tôi rất là xót xa!” Đồng thời còn chỉ trích ông Chu Dung Cơ “Sự nhạy bén trong chính trị sao thấp như vậy. Vấn đề Pháp Luân Công nếu không giải quyết thật chặt, sẽ phạm phải một sai lầm lịch sử!” Ông Chu từng bị dán nhãn là một người “cánh hữu” vì một lời nhận xét của ông vào năm 1958, trở nên im lặng. Vì lời nhận xét trước kia của mình mà ông đã bị bức hại trong gần 20 năm, và phải nếm mùi quả đấm sắt mà ĐCSTQ sử dụng với những người bất đồng quan điểm. Sự tức giận của ông Giang Trạch Dân đã làm những người khác đều cảm thấy sợ hãi.

Có một điều đến giờ vẫn chưa rõ, là khi ông La Cán khơi mào cho sự kiện “Ngày 25 tháng 4” có phải là do nhận sự chỉ thị từ ông Giang Trạch Dân không? Hay là chỉ tự mình làm theo ý muốn của ông Giang? Nhưng chúng ta vẫn có thể nhìn thấy một điều, vào năm 2002, dưới sự ủng hộ của ông Giang, ông La Cán đã trở thành Ủy viên Thường trực Bộ Chính trị.

Lừa gạt Bộ Chính trị lẫn nhân dân Trung Hoa

Để bắt các ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị khác đồng ý loại bỏ Pháp Luân Công, ông Giang đã có âm mưu cùng với người phụ trách An ninh Quốc gia thời bấy giờ là ông Tăng Khánh Hồng cung cấp thông tin tình báo giả thông qua các điệp viên ở Mỹ. Những thông tin giả này nhằm vu khống Pháp Luân Công “làm chính trị”. Ông Giang đã công bố “thông tin tình báo quan trọng” này cho Trung ương Đảng. Các ủy viên Ban Thường vụ khác không thể biết được là điều đó có đúng hay không nên đã phải im lặng.

Vào ngày 10/6/1999, ba ngày sau khi phát biểu tại cuộc họp của Ban Thường vụ Bộ Chính trị, ĐCSTQ đã thành lập “Ban Chỉ đạo Xử lý Vấn đề Pháp Luân Công,” hay còn gọi là Phòng 610. Hai ông Lý Lan Thanh và La Cán là người lãnh đạo cao nhất và nhì của phòng. Cơ quan này, tương tự như Ban Cách mạng Văn hóa Trung ương thời Mao Trạch Đông và Gestapo của Hitler, được giao đặc quyền đứng trên pháp luật.

Các chiến lược chính của ông Giang trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công bao gồm “bôi nhọ thanh danh, vắt kiệt tài chính, hủy hoại thân thể.” Ông này đã tiêu hủy các cuốn sách của Pháp Luân Công, phong tỏa thông tin trên Internet, và bôi nhọ Pháp Luân Công trên các phương tiện truyền thông. Ông Giang cũng phạt nặng những ai theo Pháp Luân Công, tịch thu tài sản cá nhân của họ, đuổi việc và sách nhiễu việc làm ăn của họ.

Những người này bị hủy hoại thân thể bằng cách đánh đập tàn nhẫn, tra tấn, ngược đãi, và bị mổ lấy nội tạng khi họ vẫn còn sống. Cảnh sát được khuyến khích tra tấn họ bằng cách được phép coi những cái chết do bị tra tấn là tự tử, thiêu xác mà không cần xác định danh tính, và thông qua việc thu hoạch nội tạng của người tu Pháp Luân Công còn đang sống để bán lấy tiền.

Mặc dù đã huy động lượng lớn ngân khố quốc gia và lực lượng cảnh sát để đàn áp Pháp Luân Công, tuy nhiên kết quả vẫn chưa đạt được như ý muốn vì lòng dân chưa thuận. Để kích động lòng thù hận của dân chúng với Pháp Luân Công, ông Giang đã ra lệnh cho ông La Cán dàn dựng vụ tự thiêu trên Quảng trường Thiên An Môn vào năm 2001, trong đó những người không phải là người tu Pháp Luân Công giả dạng và tự thiêu. Tin tức về việc này được lan truyền ra khắp thế giới thông qua các phương tiện truyền thông của chính quyền Trung Quốc với một tốc độ chưa từng có.

Vụ việc đã sớm bị nhiều tổ chức quốc tế phát hiện ra là một trò lừa bịp. Khi được hỏi, một nhân viên tham gia vào việc sản xuất câu chuyện tự thiêu này nói rằng một số cảnh trong các bản tin của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) về vụ tự thiêu đã “được quay sau đó.”

Bất chấp những nỗ lực của ông Giang Trạch Dân trong việc gây sức ép, mua chuộc giới truyền thông quốc tế để không can thiệp và không đăng sự thật về Pháp Luân Công, cuối cùng, ngày 14 tháng 08 năm 2001, tổ chức Phát triển Giáo dục Quốc tế (IED) vẫn thông báo công khai tại cuộc họp Liên Hợp Quốc rằng: “Cuộc điều tra của chúng tôi cho thấy chính quyền ĐCSTQ thật sự đã dàn dựng vụ tự thiêu và giết những người này để bôi nhọ Pháp Luân Công. Tuy nhiên, chúng tôi đã có được một video phân tích vụ tự thiêu cho thấy rõ ràng rằng chế độ ĐCSTQ đã chỉ đạo và dàn dựng toàn bộ sự việc.” Ngoài ra, Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc tại Geneve, Thụy Sĩ cũng đã phê phán vụ việc vì nó “là hành động do chính phủ dàn dựng để lừa gạt nhân dân.”

Tiến hành đàn áp

Trong những ngày đầu, ông Giang Trạch Dân đã huy động tới 1/4 ngân sách GDP của Trung Quốc để đàn áp Pháp Luân Công. Vào tháng 05/2003, ngân sách “để duy trì ổn định” được công bố là khoảng hơn 111 tỷ USD, thậm chí vượt cả ngân sách quân sự (khoảng 106 tỷ USD).

Số tiền khổng lồ này được sử dụng cho bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương, các lực lượng quân đội, cảnh sát tham gia vào cuộc đàn áp. Số tiền này cũng phục vụ hệ thống tuyên truyền bôi nhọ của phát thanh, truyền hình, báo chí, mạng Internet, hệ thống giáo dục mà đưa ra thông tin một chiều vu khống, bôi nhọ Pháp Luân Công và người sáng lập. Số tiền này cũng dùng để trả thưởng cho những ai tố giác người tu Pháp Luân Công trong cả nước.

Ngoài ra, nó còn được dùng để mua chuộc các kênh truyền thông quốc tế ở nước ngoài và gây sức ép kinh tế lên các quốc gia, các tập đoàn lớn, để không quốc gia nào, không một kênh truyền thông quốc tế lớn nào lên tiếng dù biết sự thật về cuộc đàn áp tại Trung Quốc. Đó là lý do mà những quốc gia vẫn được cho là mẫu mực nhất về nhân quyền, nhưng trước những hợp đồng kinh tế lớn với Trung Quốc, trong suốt một thời gian dài đã chọn cách im lặng trước cuộc đàn áp Pháp Luân Công hoặc đăng tin một chiều thuận theo vu khống của truyền thông Trung Quốc Đại Lục.

Hệ thống tường lửa để ngăn chặn và kiểm soát toàn bộ thông tin từ thế giới tự do cũng tiêu tốn những khoản tiền lớn trong ngân sách “duy trì ổn định” này.

Ông Giang Trạch Dân cũng đưa toàn bộ tay chân đàn em và thân tín, gia quyến của mình vào nắm giữ các vị trí lãnh đạo quan trọng để khống chế toàn bộ quyền lực trong Đảng và nền kinh tế, đặc biệt là công an và quân đội, cả trong thời gian đương quyền lẫn khi đã về hưu.

“Tứ trụ triều đình” của ông gồm: Tăng Khánh Hồng, Chu Vĩnh Khang, Từ Tài Hậu, Quách Bá Hùng. Sau khi theo ông Giang từ Thượng Hải lên Bắc Kinh, ông Tăng Khánh Hồng đã được bổ nhiệm Chủ nhiệm Văn Phòng Trung ương, Phó chủ tịch nước. Bên công an thì có ông Chu Vĩnh Khang, ông Lý Đông Sinh thâu tóm quyền lực, quân đội thì giao vào tay ông Từ Tài Hậu và ông Quách Bá Hùng.

Phòng 610 điều phối tuyên truyền lừa dối, đàn áp Pháp Luân Công, giám sát và thu thập tình báo, tra tấn, cải tạo, “chuyển hóa” người tu Pháp Luân Công trong nước. Ngoài ra, Phòng 610 này còn cử nhân viên mật vụ đi khắp thế giới để tuyên truyền bôi nhọ, vu khống Pháp Luân Công và nhà sáng lập, mua chuộc quan chức, cảnh sát thậm chí cả xã hội đen, mafia tham gia vào cuộc đàn áp, thậm chí nhiều lần tổ chức ám sát người tu Pháp Luân Công và người sáng lập. Nhưng đỉnh điểm của cái ác chính là hành vi mổ cướp nội tạng người tu Pháp Luân Công để bán kiếm lợi, được luật sư nhân quyền Canada, ông David Matas nhận xét là “một hành động tà ác nhất từ trước đến nay chưa từng có trên hành tinh này”.

Ngày 19/5/2016, Tổ chức Thế giới Điều tra về bức hại Pháp Luân Công đã công bố một báo cáo dài hơn 210.000 chữ chứng minh có kho nội tạng sống khổng lồ ở Trung Quốc mà nguồn gốc chủ yếu là từ người tu Pháp Luân Công. Đây được cho là kết quả điều tra trong 10 năm thu thập chứng cứ, theo dõi 865 bệnh viện có hoạt động cấy ghép và hơn 9.500 bác sĩ làm nghề này, kiểm tra thông tin từ các báo cáo luận văn, kho số liệu trên các trang mạng của bệnh viện và gọi hơn 2.000 cuộc điện thoại ghi âm làm chứng.

Khoảng 1,5 triệu người đã bị chính quyền Trung Quốc giết để lấy nội tạng, chủ yếu trong số đó là những người tu Pháp Luân Công. Đây là kết quả điều tra mới được công bố hôm 22/6 của ba nhân sỹ tiên phong trong nỗ lực phơi bày tội ác diệt chủng tại Trung Quốc, bao gồm cựu Quốc vụ khanh Canada David Kilgour, nhà báo điều tra Ethan Gutmann và luật sư nhân quyền David Matas.

Ông David Kilgour (trái), ông David Matas (giữa) và ông Ethan Guttman (phải)
Ông David Kilgour (trái), ông David Matas (giữa) và ông Ethan Guttman (phải)

Con át chủ bài

Trong thời kỳ đầu của cuộc trấn áp, ông Giang đã hò hét rằng sẽ “tiêu diệt Pháp Luân Công trong vòng ba tháng”, nhưng bản thân ông và ĐCSTQ không ngờ rằng dù cho không sử dụng hình thức bạo động, mà chỉ bằng nỗ lực đi nói rõ sự thật với thế giới, Pháp Luân Công không những vẫn sống, vẫn tồn tại mà còn phát triển rộng khắp ra toàn thế giới, kể cả ở Việt Nam.

Người tu Pháp Luân Công luyện công tập thể tại Hà Nội.
Người tu Pháp Luân Công luyện công tập thể tại Hà Nội.

Cuối năm 2009, Tòa án quốc gia Tây Ban Nha đã ra quyết định truy tố các bị can Giang Trạch Dân, La Cán, Bạc Hy Lai, Giả Khánh Lâm, và Ngô Quan Chính vì các tội tra tấn và diệt chủng đối với người tu Pháp Luân Công.

Ngày 6/2/2012, ông Vương Lập Quân, cựu Giám đốc Công an Trùng Khánh đã xông vào lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô giao cho Chính phủ Mỹ một lượng lớn tài liệu cơ mật các loại về nội tình trong ĐCSTQ, mà phần lớn là tài liệu về vấn đề Pháp Luân Công, gồm cả tài liệu mật vạch trần bức màn đen mổ lấy nội tạng sống người tu Pháp Luân Công. Sau đó, hãng thông tấn Hoa Kỳ Washington Free Beacon đã trích lời một quan chức Mỹ, rằng ông Vương Lập Quân đã nói với quan chức lãnh sự quán Mỹ về âm mưu chính biến đoạt quyền Tập Cận Bình của ông Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang. Tạp chí Phượng Hoàng (Hồng Kông) số tháng 1/2015 tiết lộ, đồng minh trong âm mưu chính biến của Bạc chính là ông Giang Trạch Dân và Tăng Khánh Hồng. Tạp chí Tiền Tiêu (Hồng Kông) cũng đưa tin, sau sự kiện chính biến ngày 19/3 thất bại, ông Giang Trạch Dân đã điện cho ông Hồ Cẩm Đào nhờ giúp đỡ cho ông Chu Vĩnh Khang.

Trong những năm gần đây, phe cánh ông Giang đã dần yếu thế. Nhiều tay chân của ông tham gia chiến dịch đàn áp Pháp Luân Công đã bị xét xử với tội danh ‘hình thức’ là tham nhũng, như cựu Ủy viên Bộ Chính trị Bạc Hy Lai, cựu Thứ trưởng Bộ Công an, kiêm Trưởng Phòng 610, Lý Đông Sinh, và cựu Bộ trưởng Bộ Công an Chu Vĩnh Khang, Ủy viên Bộ Chính trị Từ Tài Hậu và Quách Bá Hùng…

Bằng nỗ lực kháng nghị ôn hòa để phản bức hại và đòi quyền tự do tu luyện không mệt mỏi của những người tu Pháp Luân Công trên toàn thế giới, ngày 13/6 năm nay, Hạ viện Mỹ đã thông qua Nghị quyết 343 yêu cầu chính quyền Trung Quốc chấm dứt hoạt động mổ cướp nội tạng đối với các tù nhân lương tâm trong đó có của người tu Pháp Luân Công, đồng thời kết thúc cuộc đàn áp Pháp Luân Công vốn đã kéo dài 17 năm qua.

Mới đây, trong ngày đầu tiên của phiên họp toàn thể Nghị viện châu Âu (12/9), Chủ tịch Nghị viện ông Schulz đã chính thức công bố Bản tuyên bố số 48 được 414 nghị viên ký thông qua: kêu gọi dừng hành vi mổ cướp nội tạng các tù nhân lương tâm đang diễn ra tại Trung Quốc, bao gồm việc tiến hành điều tra độc lập ngay lập tức. Bản tuyên bố nêu rõ, liên tục có những báo cáo đáng tin cậy chỉ ra rằng, có việc mổ cướp nội tạng một cách có hệ thống, được nhà nước bao che, nạn nhân là những tù nhân lương tâm đang còn sống, là những người tu Pháp Luân Công, người Duy Ngô Nhĩ, người Tây Tạng và người Ki-tô giáo.

Giới quan sát nhìn nhận, nếu ông Tập Cận Bình tập hợp đủ lực lượng ủng hộ rồi sử dụng tội “diệt chủng” và “phản nhân loại” để truy cứu ông Giang Trạch Dân và những người có liên quan, có thể trận chiến sẽ hoàn toàn kết thúc. Hiện nay, số người ký tên khởi kiện ông Giang Trạch Dân về các tội này lên Tòa án Tối cao Trung Quốc đã lên đến khoảng 1,5 triệu người.

Có thể nói, trong “đấu trường sinh tử” giữa Giang Trạch Dân và Tập Cận Bình thì việc đàn áp Pháp Luân Công đóng vai trò là con át chủ bài mà ông Tập Cận Bình sẽ công khai khi đến lúc cần thiết để hoàn toàn triệt hạ phái Giang. Tuy nhiên, ông cũng thừa hiểu rằng, một khi công khai sự thật về Pháp Luân Công, điều đó cũng tương đương với việc ĐCSTQ có nguy cơ tự sụp đổ vì nhân dân Trung Hoa không thể đặt niềm tin của họ vào một thể chế tà ác như thế được.

Công khai sự thật về Pháp Luân Công và dẫn dắt Trung Quốc đi theo hướng dân chủ, ông Tập Cận Bình đang đứng trước một quyết định mang tính lịch sử trọng đại. Thời điểm đưa ông Giang Trạch Dân ra công lý và chấm dứt cuộc bức hại Pháp Luân Công đã chín muồi. Khi tin tức về việc bắt giữ ông Giang được công bố, người dân Trung Quốc sẽ đốt pháo ăn mừng để kỷ niệm một thời đại mới.

Mời xem tiếp Phần 2: Toàn cảnh “đấu trường sinh tử giữa Giang Trạch Dân và Tập Cận Bình

Bảo Minh (T/H)

Trithucvn.net

Xem tiếp

Con sáo của em tôi - Duyên Anh

Truyện ngắn: Con sáo của em tôi _ Duyên Anh

Con sáo của em tôi                     ...

Bình Luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *