Báo hay cho người bận rộn

Giới nhân sĩ kêu gọi Quốc Hội rút ‘Luật Đặc Khu’ trong vô vọng

0

Đặc khu và tiếng kêu của nhân dân

3/6/2018 _ Nguyễn Quang Thiều

Kính thưa các vị,

Trong những ngày này, quanh chúng ta đang vang tiếng kêu của nhân dân về một mối đe dọa mà nhân dân đang cảm thấy và nhìn thấy. Đó là mối đe dọa từ cái tên “ đặc khu”. Trong suy nghĩ đơn giản của tôi, đặc khu không phải tạo ra bất cứ điều gì gọi là sự đe dọa. Nhưng ai là người thuê đặc khu ấy trong một thời gian quá dài mới là kẻ làm ra sự đe dọa. Và trong suy nghĩ có thể là thiển cận của mình, tôi nghĩ “đặc khu” không phải là con đường duy nhất làm cho một đất nước phát triển và giàu có. Rất nhiều quốc gia giàu có trên thế giới không phải dùng phương án gọi là đặc khu mà họ đã phát triển đất nước rực rỡ. Hơn nữa, người sẽ thuê 3 đặc khu ở những vị trí rất đặc biệt và quan trọng có nguy cơ là Trung Quốc. Và chính vì người sẽ thuê 3 vị trí chiến lược của Việt Nam là Trung Quốc nên tiếng kêu của người dân mới vang lên khẩn thiết như vậy.

Trước hết, tôi muốn các vị hiểu một điều quan trọng là tiếng kêu của nhân dân xuất phát từ đâu ?

Từ cảm giác của nhân dân về sự bất an
Từ linh cảm của nhân dân về những bất trắc
Từ trí tuệ của dân dân là trí thức, văn nghệ sỹ, các nhà kinh tế học, các doanh nhân chân chính…
Từ kinh nghiệm và sự thật lịch sử của một dân tộc chống ngoại bang
Từ trách nhiệm và lương tâm của nhân dân đối với vận mệnh tương lai của đất nước.

Kính thưa các vị,

Cách đây mấy năm, tôi đã viết trên báo một bài nói tới sự cảnh báo của nhiều nước lớn về Trung Quốc. Một trong những điều tôi nói tới là hình ảnh các China Town ( phố Tàu) trên thế giới. Đoạn viết như sau :
“ Trước năm 1992, tôi không hiểu gì về China town – phố Tàu ngoài nghĩa là một cộng đồng di dân người Trung Quốc sống tập trung. Tháng 7 năm 1992, tôi được Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc mời đến thăm Úc. Trong chuyến đi ấy, tôi đã đọc một cuốn sách nghiên cứu về China town của một nhà nghiên cứu Úc. Tôi xin tóm tắt những gì tác giả này viết về China town :

Khi China town được dựng lên, chúng ta ( người Úc ) đến đó với tinh thần đi thăm quan một cộng đồng di dân có một nền văn hóa khác biệt. China town lúc đầu giống như một hội chợ của người Trung Quốc tổ chức trên đất Úc. Chúng ta đến đó xem họ múa lân và thưởng thức các món ăn Trung Quốc. Chúng ta thực sự thấy vui vẻ khi trên đất nước chúng ta có một cộng đồng đầy bản sắc bởi Úc là một đất nước đa bản sắc nên sự chấp nhận các cộng đồng khác không có gì quá khó khăn.

Rồi chúng ta lãng quên đi. Mười năm sau chúng ta trở lại China town. Chúng ta giật mình. China town đã phát triển quá nhanh. Nhưng điều đáng suy nghĩ nhất là China town không phải là khu cộng đồng của người Trung Quốc định cư trên đất Úc hay là một hội chợ của Trung Quốc nữa mà nó đã biến thành một tiểu Trung Quốc trên đất Úc với sức ảnh hưởng không nhỏ của nó. China town này muốn mở rộng mãi mãi và muốn Trung Quốc hóa những khu vực mà China town lấn tới. Đến lúc này, niềm vui và tính tò mò của chúng ta về trò múa lân cùng với hương vị của ẩm thực Trung Quốc không còn mà thay vào đó là một nỗi lo sợ.

Nỗi sợ hãi của tác giả cũng là nỗi sợ hãi của rất nhiều người ở những quốc gia mà những người Trung Quốc đến định cư và làm mọc lên những China town. Tổng thống Mỹ Donald Trump trong thời gian tranh cử đã liên tục cảnh báo người Mỹ về mối nguy hiểm của con bạch tuộc mang tên Trung Quốc. Và trong cách nhìn của tôi thì các China town là những cái hang của con bạch tuộc đó.

Đọc trên trang web SOI, tôi thấy một bài viết rất hay về hội họa Kenya trong một triển lãm quốc tế. Điều bài báo nói đến là “ một triển lãm hội họa Kenya” ( Châu Phi ) nhưng lại là tranh đặc Tàu của các họa sỹ người Hoa định cư ở đó. Một cú đánh trắng trợn và một cái chết thảm thương của nền hội họa của nước Châu Phi này.

Tôi đã nói khá kỹ phần nghiên cứu về China town của nhà nghiên cứu xã hội Úc trên một tờ báo trong nước từ những năm 1990 của thế kỷ trước. Tất nhiên ý kiến về một nguy cơ có vẻ “xa xôi” này có lẽ quá ít người chú ý. Giống như khởi đầu của những China town – phố Tàu trong những ngày đầu xuất hiện “.

Kính thưa các vị,

Trong những năm gần đây, các cơ quan truyền thông thế giới và báo chí chính thống của chúng ta đã liên tục lên tiếng về hành động của Trung Quốc trong vấn đề biển đảo và những cuộc “xâm lược mềm”. Trung Quốc đã dùng sức mạnh về người, về tiền và vũ khí trắng trợn vi phạm chủ quyền biển đảo của chúng ta và một số nước láng giềng của họ. Những nhóm du lịch Trung Quốc ngang nhiên đứng giữa một số thành phố của chúng ta và tuyên bố chủ quyền của họ. Gần đây nhất, một nhóm du lịch Trung Quốc nhất loạt mặc áo có in bản đồ công khai tuyên bố một số hòn đảo của Việt Nam thuộc chủ quyền của họ. Đây không phải là trò láo lếu của một thằng oắt con vô học trốn bố mẹ đi chơi mà là chiến lược của Trung Quốc. Chỉ bằng những hiện thực ít ỏi vậy thôi chúng ta cũng thừa đủ chứng cứ để hiểu Trung Quốc đã và đang làm gì với đất nước chúng ta.

Kính thưa các vị,

Đặt ngón tay lên nút ấn ngay cả nút ấn phóng tên lửa mang đầu đạn hạt nhân sẽ không làm những ngón tay ấn nút ấy có một chút gợn nào của sự đau đớn và chết chóc. Bởi thế nó dễ làm người ta bị đánh lừa bởi những cảm giác êm ái khác ví dụ như cảm giác nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển thành rồng thành hổ. Nhưng hậu quả sau đó thật khôn lường. Viết đến đây, tôi nhớ tới một bài thơ của cố nhà thơ Phạm Tiến Duật khi ông viết về một bà mẹ ở địa đạo Vĩnh Linh trong năm tháng chiến tranh khốc liệt chống Mỹ bảo vệ tổ quốc. Bà mẹ Vĩnh Linh ấy nói “ Thà ăn muối suốt đời còn hơn là có giặc”. Nếu chỉ vì miếng ăn thì trong những ngày này chúng ta sẽ không nghe tiếng kêu của nhân dân vang lên khẩn thiết cho dù rất nhiều nhân dân của các vị đang sống trong muôn vàn khó khăn. Và tôi biết, có những người trong các vị trong những ngày này đã cất tiếng kêu công khai cùng tiếng kêu của nhân dân và cũng không ít vị đang dày vò lương tâm.

Hơn lúc nào, lúc này tất cả chúng ta phải thật tĩnh tại và suy ngẫm thật thấu đáo. Hơn lúc nào, lúc này chúng ta cần sử dụng đến lương tâm và tình yêu tổ quốc của mình. Các vị có thể ấn nút thông qua cho Trung Quốc thuê 99 năm 3 “vùng lãnh thổ đặc biệt” của chúng ta mà không cảm thấy có gì bất trắc. Rồi mươi năm sau này, các vị cũng sẽ không cảm nhận thấy gì cả. Nhưng 30, 50 hay 100 năm sau khi chúng ta trong đó có các vị đã tan vào cát bụi hư vô, thì là lúc con cháu chúng ta đứng trước đất nước và bật khóc hỏi: vì sao dân tộc chúng ta lại như thế này ???

Dân tộc chúng ta đang đứng trước những thách thức khổng lồ. Có không ít các dân tộc trên thế giới ở những “cuộc chiến” nào đó và ở một giai đoạn nào đó họ đã không chiến thắng. Nhưng điều quan trọng nhất là các dân tộc đó đã không khuất phục. Bởi khuất phục là sự thất bại đau đớn và hổ nhục nhất mà không có chiến thắng nào sau đó có thể bù đắp được. Và “sự khuất phục” mới thực sự là thất bại thảm hại nhất mà không ai có quyền ngụy biện.

Xin chúc các quí vị luôn là người chiến thắng. Bởi nhân dân của các quí vị chưa bao giờ chịu khuất phục trong toàn bộ lịch sử của mình.

Văn Hóa Nghệ An

________________

Đọc thêm:

Giới nhân sĩ kêu gọi Quốc Hội CSVN rút ‘Luật Đặc Khu’ trong vô vọng

Giá đất tại Phú Quốc tăng mạnh trước ngày hòn đảo này trở thành đặc khu. (Hình: Zing)

Đến hôm 3 Tháng Sáu, đã có khoảng 300 nhân sĩ, trí thức ký vào bản “khẩn thiết kêu gọi” toàn thể “đại biểu quốc hội” phản đối, rút bỏ Dự Luật Đơn Vị Hành Chính-Kinh Tế Đặc Biệt (Luật Đặc Khu).

Trong danh sách này, người ta thấy có những nhân vật thường hiện diện trong các bản lên tiếng phản ứng trước một số quyết sách “không được lòng dân” của chính quyền: Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Công Giàu, Huỳnh Kim Báu, Nguyễn Huệ Chi, Tương Lai, Nguyễn Đình Đầu, Lê Công Định, Kha Lương Ngãi, giám mục Nguyễn Thái Hợp…

Văn bản nêu trên viết: “Nhiều phát ngôn, bài viết rất tâm huyết về Luật Đặc Khu của nhiều chuyên gia đã được công bố trên các báo, mạng, nhưng công luận đang đặc biệt quan tâm là các đặc khu kinh tế định thành lập (hoặc đã có từ trước) đều nằm ở các vị trí hiểm yếu, là trọng điểm an ninh quốc phòng của đất nước.”

“Ba đặc khu định thành lập thì Vân Đồn chỉ cách Hải Nam 200 hải lý, Vân Phong gần với cảng Cam Ranh và Phú Quốc là đảo lớn nhất trấn giữ phía cực Nam của tổ quốc.”

Nhượng đất” hay “nhượng địa” là phần đất đai của quốc gia do ngoại bang làm chủ. Đấy là bán nước từng phần, phải vậy không? Ai trong ban lãnh đạo đang nắm quyền lực đã toan tính gì khi đưa ra quốc hội dự luật nhiều sơ hở đó? Người Việt với kinh nghiệm lịch sử nghìn năm chống Bắc thuộc đòi phải cương quyết bác bỏ ngay dự luật “nhượng chủ quyền từng phần” nói trên.

Không khó để dự đoán chính quyền CSVN sẽ không có bất kỳ phản hồi nào trước bản lên tiếng về Luật Đặc Khu của các nhân sĩ có tên trong văn bản. Bởi hầu hết trong số những người này đều được chính quyền xem là tiếng nói đối lập, thậm chí là “phe phản động” nên họ thường xuyên bị ngăn không cho ra khỏi nhà mỗi khi trên mạng xã hội có lời kêu gọi xuống đường.

Đến nay, cũng không có chỉ dấu nào cho thấy các “đại biểu quốc hội” sẽ “bất tuân” lệnh từ Bộ Chính Trị CSVN để bác dự luật bị cảnh báo là dọn đường cho Trung Quốc nắm giữ ba vị trí đắc địa của Việt Nam.

Trong bài công bố trên trang Viet-Studies mới đây, ông Nguyễn Quang Dy, nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu, viết: “Nếu đặt câu chuyện ba đặc khu kinh tế này trong bối cảnh xung đột lợi ích Biển Đông và tầm nhìn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương hiện nay, thì yếu tố Trung Quốc trong bức tranh địa chiến lược hiện lên rất rõ. Bản chất của các đặc khu Vân Đồn, Phú Quốc, Vân Phong, chủ yếu là sân chơi địa ốc và cờ bạc. Ngay khi vừa mới bàn đến triển vọng thành lập đặc khu thì người ta đã đổ xô đến chiếm đất để đầu cơ và đẩy giá lên rồi, vậy cần thành lập đặc khu làm gì nữa.”

Muốn Vân Phong trở thành một cảng trung chuyển thì không nhất thiết phải lập đặc khu. Đầu tư địa ốc thực chất cũng chỉ là đầu cơ để để trục lợi ngắn hạn. Yếu tố chính để thu hút đầu tư là một số ưu đãi để lách luật, trốn thuế, hay rửa tiền. Nhưng nếu thu hút đầu tư bằng mọi giá, thì cái giá phải trả cũng sẽ rất lớn. Muốn phát triển bền vững, phải cải tổ thể chế để hội nhập quốc tế theo các tiêu chuẩn chung đã cam kết thông qua các hiệp định như WTO, BTA, FTA (và CPTPP),” ông Quang Dy viết.

“Tuy đảng CSVN lãnh đạo ‘toàn diện và triệt để,’ nhưng quốc hội cũng phải gánh một phần trách nhiệm. Đây là lúc đại biểu quốc hội và quan chức chính phủ cần suy xét kỹ và quyết định nên chọn cái gì (như nên ‘chọn cá hay thép’). Nếu quyết định đúng họ sẽ được hậu thế hàm ơn. Nếu quyết định sai họ sẽ bị hậu thế nguyền rủa (dù có cao bay xa chạy)…,” theo bài của ông Quang Dy.

Người Việt

_________________

Đọc thêm:

Chuyện TQ mất đất sau Chiến tranh Nha phiến

6/6/2018

The ArrowBản quyền hình ảnhUNIVERSAL HISTORY ARCHIVE
Image captionQuan quân nhà Thanh lên tàu The Arrow giật cờ của Anh Quốc trong Chiến tranh Nha phiến lần hai. Nhưng các giao tranh chỉ đem lại thất bại cho Trung Hoa.

Ngày 15/01 năm 1840, Tổng đốc Lưỡng Quảng, Lâm Tắc Từ công bố một lá thư gửi Nữ Hoàng Victoria, yêu cầu người Anh ngừng đem nha phiến vào Trung Quốc.

Phụng mệnh Hoàng đế Đạo Quang đi tiễu trừ nạn nha phiến, tên tuổi Lâm Tắc Từ (1785-1850) đã gắn liền với nỗ lực tự vệ thất bại của Trung Hoa trong thế kỷ 19.

Nhưng tư duy của ông cũng phản ánh hạn chế của quan lại Trung Hoa lúc Phương Tây bành trướng theo các nguyên lý kinh tế mà nhà Thanh không thể hiểu nổi.

Trong lá thư được đăng ở Quảng Châu, Lâm Tắc Từ kêu gọi Nữ Hoàng Anh hãy “chọn lựa những thần dân để ngăn bọn xấu, bọn vô lại không sang Trung Hoa”.

Lâm Tắc Từ vẫn tin rằng nạn buôn lậu nha phiến vào Trung Quốc để thu bạc trắng của người Anh xảy ra chỉ vì một số cá nhân bất hảo.

Trung QuốcBản quyền hình ảnhBETTMANN
Image captionMột phụ nữ Trung Hoa nghiện bàn đèn thuốc phiện. Anh Quốc đã bán vào Trung Quốc thời nhà Thanh hàng nghìn tấn nha phiến, gây hủy hoại sức khoẻ người dân và rường mối xã hội để thu về hàng vạn lượng bạc

Ông nói Thiên Triều sẽ tha tội cho những người Anh nào đã trót buôn thuốc phiện vào Trung Quốc “vì nhầm lẫn” (by mistake), và không hiểu luật lệ sở tại.

Ông nêu quan điểm ‘đức trị’ của Nhà Thanh để hỏi Nữ hoàng Victoria không chấp nhận nha phiến ở Anh thì sao bà có thể để chuyện đó xảy ra với Trung Quốc.

Nhưng công ty Đông Ấn được Hoàng gia Anh bảo trợ không chỉ làm chủ một phần Ấn Độ mà còn độc quyền trồng nha phiến ở Bengal để bán vào Trung Hoa.

Hỗ trợ cho họ là kế hoạch ‘ngoại giao pháo hạm’ của chính quyền Anh nhằm ép Trung Quốc mở cảng biển, nhân danh ‘tự do thương mại’ và ‘tự do truyền đạo’.

Trong khi đó, Lâm Tắc Từ vẫn coi người Anh chỉ là một thứ ‘rợ’, giống các bộ lạc du mục đánh vào Trung Quốc các thế kỷ trước.

Cứ lấy lễ giáo Thiên Triều để giáo hóa hẳn họ phải nghe.

Tàu Phương TâyBản quyền hình ảnhDEA PICTURE LIBRARY
Image captionLiên quân Phương Tây dùng ‘ngoại giao pháo hạm’ buộc Thanh triều mở cửa
Trung QuốcBản quyền hình ảnhHULTON ARCHIVE
Image captionDù kiên cường chống ngoại xâm, các nhóm dân quân tự tổ chức ở vùng quê Trung Quốc, gồm cả thiếu niên, chỉ có gậy và lá chắn bằng tre, gỗ, không thể địch nổi các pháo hạm và súng trường của Phương Tây

Sau một vụ va chạm vì lính Anh say rượu giết chết dân Trung Quốc mà không trao nộp thủ phạm cho quan chức Thanh, Lâm Tắc Từ ra tối hậu thư, rồi cho đốt 1400 tấn nha phiến của Anh ở Quảng Châu.

Tháng 6/1840, Anh Quốc cử 16 thuyền chiến đưa quân lính và cả nhân viên của công ty sản xuất nha phiến Jardine Matheson & Co. đến Quảng Châu.

Trong hai năm liền, quân Anh chặn cảng, bắn phá các thành trì của Trung Quốc, lên bộ chiếm đô thị và ép nhà Thanh đàm phán.

Thời kỳ nhượng địa

Cuộc chiến Nha Phiến lần đầu đã làm bộc lộ toàn bộ những yếu kém chiến lược, chiến thuật, khả năng tác chiến của quân Thanh.

Trung QuốcBản quyền hình ảnhBETTMANN
Image captionTranh vẽ lễ ký kết Hoà ước Thiên Tân lần đầu năm 1858 giữa nhà Thanh với các sứ thần Anh và Pháp

Khi giao tranh kết thúc, nhà Thanh phải ký hòa ước Nam Kinh (1842), bồi thường chiến phí cho Anh, mở 11 cảng và cho truyền đạo tự do.

Hương Cảng (Hong Kong) và vùng cửa sông Châu Giang trở thành nhượng địa 99 năm cho Anh.

Con số 99 năm được ghi vào đó chỉ để Thanh triều khỏi mất mặt vì hai bên đều nghĩ nhượng địa đó là vĩnh viễn.

Điều cay đắng nhất cho Lâm Tắc Từ là dù nhận mật lệnh của vua để làm mạnh tay với quân Anh, ông đã bị tước chức khâm sai đại thần, cho về làm quan ở phía Bắc.

Các tính toán tiếp theo của nhà Thanh đều không cứu vãn được đất nước.

Tới cuộc chiến Nha Phiến lần hai, chiến thuyền Anh-Pháp lên tận Thiên Tân, uy hiếp triều đình.

Một hòa ước được ký năm 1858, mở toang cánh cửa Trung Quốc cho các đại cường xâu xé.

Sau Anh và Pháp đến Đức, Nga, Mỹ và Nhật đều vào bắt nạt Trung Quốc, biến nước này thành một mạng lưới các đặc khu – thuộc địa (enclaves – colonies).

Cho đến đầu thế kỷ 20, danh sách các đặc khu, gồm tô giới và nhượng địa lên tới hàng chục.

Tại đó, luật ưu tiên người nước ngoài và dân Trung Quốc chỉ vào làm thuê, bán sức lao động.

Dù đến sau Bồ Đào Nha, Anh là nước ‘đầu têu’ trong vụ bức bách Trung Quốc trao quyền ‘tối huệ quốc’ cho Phương Tây nên phần bánh của Anh là to nhất.

Bên cạnh tô giới ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Hạ Môn, Anh Quốc có thuộc địa Hong Kong và quyền vào hàng loạt cảng biển, cảng sông trên toàn Trung Hoa.

Ngoài Anh, số nhượng địa của nước khác có thể điểm ra như sau:

  • Tô giới của Pháp ở Thiên Tân, Thượng Hải, Trạm Giang, Hán Khẩu, Vân Namvà đường xe lửa nối Côn Minh với Hà Nội đã thuộc Pháp.
  • Tô giới của Mỹ ở Thiên Tân, Hán Khẩu.
  • Tô giới của Nga ở Đại Liên, Hán Khẩu và đường xe lửa Cáp Nhĩ Tân.
  • Tô giới của Đức ở Thanh Đảo, Thiên Tân, Hán Khẩu và một số nơi khác.
  • Tô giới của Nhật ở Đại Liên, Hàng Châu, Tô Châu, Trùng Khánh và một số tỉnh khác.
  • Trung Quốc cũng mất hẳn Đài Loan cho Nhật, và mất mọi quyền ở Triều Tiên để Nhật biến xứ sở đó thuộc địa.
  • Ngoài Bồ Đào Nha đã chiếm Macau, đến cả Hà Lan, Ý và Bỉ cũng có ‘phầnbánh‘ ở Trung Quốc.

Đế quốc Trung Hoa rơi vào một thế kỷ ô nhục, và cái nhìn của họ với bên ngoài, nhất là về người Anh được sử gia A. P. Thornton mô tả như sau:

“Người Mỹ là bạn bè giả dối. Người Nga thì bất định và tệ hơn là rất kém hiệu năng. Người Nhật như thú dữ săn mồi nhưng không ai ngạc nhiên về họ. Nhưng trong con mắt người Trung Hoa thì bọn xấu đầu bảng vẫn là Anh Cát Lợi. Họ là siêu đế quốc và kẻ áp bức Trung Quốc.”

Chỉ cần học kỹ thuật là đủ?

Trước khi qua đời năm 1850, Lâm Tắc Từ được vời ra làm quan và để lại nhiều bài học quý giá cho người Trung Quốc.

Ông thấy có nhu cầu thu thập bản đồ thế giới để hiểu về kẻ thù, và các ghi chép của ông sau được đăng trong bộ Hải quốc Đồ chí.

Tuy thế, dù dẫn đầu trường phái cải cách, đến lúc chết Lâm vẫn không hiểu nguyên tắc thương mại tự do, và mục đích của các nước Phương Tây là gì.

Thượng HảiBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionThượng Hải có các khu phố Âu là nhượng địa của Trung Quốc cho nước ngoài

Ông vẫn tin rằng văn hóa Trung Hoa là ưu việt hơn và để tự cường thì chỉ cần học kỹ thuật, công nghệ của bọn ‘man di mọi rợ’ từ Tây Phương.

Khi đến Quảng Châu, ông thấy nhiều quan lại tham nhũng đã làm ngơ để ăn tiền, hoặc tiếp tay cho nạn buôn lậu đưa chất gây nghiện từ tàu của người Anh vào bờ.

Ông tin rằng để chặn nạn tham nhũng thì cần đề cao ‘vua sáng, tôi hiền’ theo kiểu ‘đức trị’.

Lá thư của ông chẳng vào giờ đến tay Nữ hoàng Victoria, và giả sử có đến thì cũng không thay đổi gì.

Sau đó, chính báo The Times of London lại đăng bản dịch tiếng Anh của lá thư.

Dư luận Anh và một phần giới trí thức cũng chia sẻ sự phẫn nộ của Lâm Tắc Từ trước tệ nạn dùng nha phiến đầu độc người Trung Hoa để kiếm lời.

Nhưng Anh Quốc và các đại cường vẫn khai thác Trung Quốc cho tới khi Thanh triều sụp đổ.

Sang thời Trung Hoa Dân Quốc, các tô giới của nước ngoài vẫn tồn tại.

Điều gây phiền toái là mỗi đặc khu có một luật riêng và nhiều băng đảng tội phạm gây án ở khu này chạy sang khu khác để tránh tội.

Các đặc khu chỉ bị xóa khi Mao Trạch Đông giành chiến thắng trong cuộc nội chiến năm 1949.

Macau và Hong Kong thì mãi đến tận cuối thế kỷ 20 mới được trả về ‘cố hương’.

Di sản của các đặc khu kinh tế

Trung Quốc sau đó chủ động mở các đặc khu như thời ở Quảng Châu sau Chiến tranh Nha Phiến nhưng để chủ động thu hút công nghệ, đầu tư tư bên ngoài.

Một chi tiết đáng nhớ là Liên Xô cũng tiếp quản khu tô giới của Đế quốc Nga ở Đại Liên và giữ cho đến tận năm 1955 mới trả cho ‘các đồng chí Trung Quốc’.

Những tô giới của ngoại kiều như khu phố Anh, phố Pháp ở Thượng Hải nay để nhiều kiến trúc Âu-Á thú vị.

Nhưng chúng là vết thương tinh thần sâu sắc, định hình tư duy của người Trung Quốc trong thế kỷ 20, khiến họ coi quan hệ quốc tế là ‘mạnh được yếu thua’.

Ngày nay, thì thời thế đã thay đổi, thậm chí 180 độ.

Hambantota
Image captionCảng Hambantota đã được trao cho Trung Quốc thuê 99 năm vì nước chủ nhà Sri Lanka nợ các công ty Trung Quốc hàng tỷ USD

Không chỉ rửa được ‘nỗi nhục 100 năm’, Trung Quốc còn thành đại cường kinh tế với sức mạnh quân sự dâng lên mạnh mẽ.

Có ý kiến nói Trung Quốc lại đang dùng chính sách ‘creditor imperialism’, đem đồng tiền và tín dụng để mở cảng biển, đặc khu trên thế giới.

Các đặc khu ngày nay khác tô giới ngày xưa nhiều, vì phần lớn do các nước có chủ quyền làm ăn kém cỏi mà phải cần tín dụng xây cơ sở hạ tầng.

Nhưng người ta cũng nói Trung Quốc đang nhắc lại thông điệp hệt như Anh ngày trước về ‘tự do thương mại’ để bành trướng kinh tế.

Brahma Chellaney viết trên The Project Syndicate (12/2017) rằng Vành đai và Con đường (BRI) đang đẩy cửa để Trung Quốc vào khai thác thị trường, tài nguyên và nhân khẩu của nhiều nước Á Phi.

Vì thế không lạ khi đã có phản ứng của giới trí thức bản địa lo ngại những khoản cho vay với lãi suất thị trường từ BRI là một thứ gông cùm kinh tế kiểm mới.

Nếu không tự cường được, các nước yếu kém, tham nhũng sẽ phải ‘nộp cảng’ vì nghiện Reminbi như nha phiến thời Lâm Tắc Từ.

BBC

Có thể bạn sẽ thích

Bình Luận

Your email address will not be published.