Báo hay cho người bận rộn

Họ đang rắp tâm làm cho bằng được!

0

Đảng ơi! Quốc hội ơi! Hãy bình tĩnh lắng nghe dân!

5/6/2018 _ Hoàng Quốc Hải

Chỉ mới nghe Quốc Hội thảo luận về Dự án luật cho ba Đặc khu kinh tế, với quyền ưu tiên vượt trội cho nhà đầu tư tới 99 năm và họ có quyền chuyển nhượng cho người khác kể cả quyền thừa kế.

Ba đặc khu với ba cái tên: Vân Đồn – Bắc Vân Phong – Phú Quốc, nằm ở ba vùng đắc địa về kinh tế, hiểm địa về an ninh quốc phòng. Tôi vô cùng sửng sốt và có phần hoang mang nữa.

Những nhà kinh tế và khoa học đã phân tích tính lỗi thời của các đặc khu kinh tế so với thời đại 4.0

Không một nhà đầu tư nào tự nguyện đem công nghệ cao đến chuyển giao cho ta đâu. Mà họ chỉ cần thuê đất, thuê nhân công rẻ mạt và không chịu sức ép về bảo vệ môi trường.

Nếu thật sự là công nghệ cao thì không cần nhiều đất đến thế. Và tại sao phải đem ra tận ba nơi có vị trí chiến lược quan trọng mang tầm quốc tế này để mời gọi.

Ta đã có “Khu công nghệ cao Hòa Lạc”, mở ra cả chục năm rồi, chỗ còn rộng lắm mà có nhà đầu tư nào tới đâu. Và cái gọi là công nghệ cao ấy đã có sản phẩm công nghệ nào góp vào nền kinh tế?

Xin bỏ qua yếu tố kinh tế mà đi thẳng vào các vấn đề có liên quan đến lịch sử qua mô hình đặc khu với ba vùng đất, lẽ ra phải nghiêm cấm người nước ngoài tiếp cận.

Ba đặc khu ấy, nếu tính cả không gian biển và thềm lục địa mà nó có quyền tài phán theo luật Unclos, thì lên tới cả vạn km2. Các đặc khu kinh tế ấy “con quỉ” nào đội lốt “phượng hoàng” sẽ nhảy vào đây lót ổ?

Chắc chắn là người Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc nham hiểm, họ tạm né để dân Việt an tâm. Vài ba năm sau họ sẽ mua lại. Mua bằng bất cứ giá nào, với họ cũng vô cùng rẻ mạt. Như vậy nghe êm hơn.

Việc mua lại xét ra không khó. Dù chủ cũ có là người Mỹ, người Nhật, người Hàn….. hễ cứ có lời là họ bán. Đó là quy luật của lợi nhuận trong kinh doanh. Họ không có bất kì nghĩa vụ nào đối với an ninh quốc gia của chúng ta. Bởi tổ quốc của nhà tư bản chính là lợi nhuận. Còn Tổ quốc của chúng ta lại chính là đất đai, trời, biển.

Tuy nhiên, họ cũng chẳng cần tế nhị, bởi lũ tiếp tay như Võ Kim Cự thiếu gì. Luật về đặc khu này, thử ra một điều đặc biệt: “Không chấp nhận các nhà đầu tư đến từ Trung Quốc. Các chủ đầu tư không được thế chấp tài sản, chuyển nhượng tài sản cho người Trung Quốc, hoặc có yếu tố Trung Quốc”. Thử làm thế xem, liệu có nhà đầu tư nào mò tới không? Chắc là không! Bởi chỉ có người Trung Quốc là khát đất Việt Nam, nằm trong chiến lược thôn tính Việt Nam bằng giải pháp mềm: TIỀN!

Nếu ba đặc khu kinh tế với luật đặc khu như trong dự thảo, thì chỉ độ 3 tới 5 năm sau sẽ lọt vào tay người Trung Quốc hết, bởi luật Đặc khu cho phép chủ đầu tư có quyền chuyển nhượng, kể cả quyền thừa kế.

Và như vậy, chắc chắn ba Đặc khu ấy sẽ là ba thành phố Trung Hoa khổng lồ. Và chỉ trong vòng 30 năm vừa tăng trưởng dân số cơ học và di dân, tối thiểu mỗi nơi ít nhất có từ 7 triệu đến 10 triệu người.

Vài ba chục triệu người Trung Hoa nối đời sinh ra trên mảnh đất 99 năm ấy. Đương nhiên, nơi đó sẽ là quê hương của họ, tổ quốc họ. Ai xua đuổi nổi khối người khổng lồ ấy ra khỏi mảnh đất mà tổ tiên họ đã mua một cách hợp pháp.

Lại thử hỏi, với huyết thống bành trướng di truyền, liệu mấy chục triệu người ấy họ có chịu giam hãm trong giới hạn Đặc khu. Mặc nhiên, họ tỏa ra bốn phương tám hướng mà lấn chiếm, mà gieo rắc dòng máu Hán tộc trong cộng đồng người Việt.

Tới lúc này, họ chẳng cần tranh chấp thì dải đất hình chữ S này đương nhiên là của người Trung Hoa. Thành thử ta chỉ bán đợ (bán có thời hạn) ba vùng đất hẹp, lại hóa ra ta bán cả nước ta cho kẻ thù truyền kiếp.
Xin nói một cách chắc chắn rằng, nếu để người Trung Quốc đặt chân vào bất cứ nơi nào trên đất nước ta, thì không một thứ luật lệ nào chế tài được họ , họ là loài bạch tuộc triệu vòi.

Quốc hội ơi! Quốc hội có hình dung ra cảnh đất nước như thế nào sau 30 năm các người bấm nút xanh biểu quyết.

Các vị nên nhớ năm 1946, trong tình hình vận mệnh đất nước như vật nặng ngàn cân treo trên đầu sợi tóc. Pháp đã đem 15.000 quân theo chân quân Anh vào giải giáp vũ khí quân Nhật đầu hàng đồng minh. Quân pháp ra tối hậu thư cho chính quyền Nam Bộ phải đầu hàng. Thế là Nam Bộ kháng chiến. Trong khi đó 20 vạn quân Tàu Tưởng vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp vũ khí chỉ có 35.000 quân Nhật đã đầu hàng.

Trong tình thế như vậy, buộc phải chọn một trong hai kẻ thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn giải pháp đuổi 20 vạn quân thù truyền kiếp ra khỏi nước ta, đau đớn chấp nhận cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc nước ta thay thế 20 vạn quân Trung Hoa qua Hiệp định ngày mồng 6 tháng 3 năm 1946. Đó là sáng kiến vĩ đại của một người yêu nước vĩ đại, dám chịu trách nhiệm trước toàn dân và lịch sử.

Quân Trung Hoa phải rút khỏi Việt Nam từ ngày 1 đến 15 tháng 3 năm 1946, và chậm nhất là ngày 31 tháng 3 năm 1946. Điều khoản thứ 2 của Hiệp định này ghi rõ: “Nước Việt Nam thỏa thuận để 15.000 quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam thay thế cho quận đội Trung Hoa giải giáp quân Nhật. Số quân Pháp này sẽ phải rút hết trong thời hạn 5 năm.”

Trong tình thế đất nước cực kỳ nguy nan, mà người cầm lái còn sáng suốt lựa chọn, và việc ký kết vẫn tỏ rõ một nước có chủ quyền.

Vậy mà trong tình hình yên bình như thế này, với số dân 95 triệu đâu phải nước nhỏ, và người Việt Nam chưa từng cúi đầu trước kẻ xâm lược nào, dù chúng đến từ phương trời nào. Thế mà tự nhiên lại lập ra ba cái gọi là Đặc khu để rồi trước sau cũng rơi vào bẫy giặc.

Xin Đảng, xin Quốc Hội hãy nhìn tấm gương hành xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua Hiệp ước 6/03/1946, vì Đảng luôn nêu cao tinh thần “Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây là bài học lịch sử rất gần, tấm gương vẫn còn đủ sáng để ta soi.

Người Trung Quốc đông như kiến, họ Hán hóa rất nhanh, rất tài tình và bài bản.

Thử xem dân tộc Uyghur ở Trung Á bị Thanh Càn Long xâm lược và nhập vào lãnh thổ Trung Hoa từ cuối thế kỉ 19, và đổi tên xứ này thành Tân Cương. Tân Cương có diện tích rộng tới 1.600.000 km2 và có biên giới với 8 quốc gia như Nga, Mông Cổ, Ấn Độ v.v…

Theo điều tra dân số của Trung Quốc năm 1949, tỉ lệ người Hán trên vùng lãnh thổ này chỉ chiếm 4%. Tới năm 2000 (50 năm sau) người Hán đã chiếm tỉ trọng 46%. Vài năm gần đây người Hán đã áp đảo với tỉ lệ 60/40.
Việc Hán hóa này cũng đang diễn ra cấp tập trên đất Tây Tạng.

Còn vùng Mãn Châu, quê hương của nhà Thanh, dân tộc đã thống trị Trung Hoa từ cuối thế kỉ 17 đến tận đầu thế kỉ 20, bây giờ ra sao?

Người Mãn Châu oanh liệt là vậy, bây giờ đã mất tiêu văn hóa Mãn, chỉ còn lại người Mãn mang hồn Trung Hoa. Nhà văn hóa người Mãn cuối cùng là Lão Xá (1899-1966) còn giữ được cái hồn văn hóa Mãn. Nhưng rồi không chịu nổi sự kỳ thị và ngược đãi, ông đã nhảy xuống hồ Thái Bình tự tử ngày 24 tháng 8 năm 1966.
Tấm gương ấy liệu có cảnh tỉnh cho “Ba Đặc khu kinh tế” sắp ra đời?

Tổ tiên ta đã chết đi sống lại trong cả ngàn năm Bắc thuộc, để gìn giữ dòng máu Lạc Hồng không bị Hán hóa.
Đầu thế kỷ 15, Lê Lợi cùng toàn dân đã kiên cường đánh đuổi giặc Minh hiểm ác. Chúng vừa thống trị vừa tiêu diệt đến cùng nền văn hóa Việt và dòng máu Việt. Trong 20 năm (1407-1427) giặc Minh chiếm đóng nước ta, dân ta đã bị quân Tàu nướng, thui, phanh, mổ…

Nếu ngày ấy dân ta không tỉnh táo đi theo cờ nghĩa của Lê Lợị, mà nông nổi nghe theo bè lũ Bùi Bá Ký hàng Minh, liệu dân tộc Việt Nam có tồn tại đến ngày nay?

Đảng ơi! Quốc Hội ơi!
Toàn dân tộc Việt Nam đã nghe theo lời Đảng, nghe theo lời hiệu triệu của Quốc Hội làm cuộc trường chinh giải phóng dân tộc ròng rã 30 năm. Biết bao con dân ưu tú đã ngã xuống, máu chảy thành sông, thây chất thành núi. Nhiều gia đình tuyệt tự vì các con trai con gái đã lần lượt ra mặt trận, và đều đã hy sinh. Có thể nói mỗi hạt cát, mỗi viên sỏi, mỗi thân cây, gốc lúa đều thấm đẫm máu xương con dân đất Việt qua ngàn đời, để có mảnh đất Việt Nam hình chữ S ngày nay.
[…]
Vậy thì đất đai sông núi kia là của toàn dân chứ đâu phải của riêng Đảng, của riêng Quốc hội? Thế mà việc lớn có quan hệ đến sự mất còn của cả sinh mệnh quốc gia, dân tộc, Đảng và Quốc hội không nỡ hỏi ý dân. Có đúng là dân không có quyền tham gia việc nước?

Nếu Đảng và Quốc hội vẫn giữ chủ trương lập ba Đặc khu kinh tế, thì nên hỏi nguyện vọng của toàn dân qua trưng cầu dân ý.

Hãy nhìn sâu thêm một chút vào lịch sử. Cuối thế kỷ 13, mệnh nước như chuông treo chỉ mảnh. Nhà Trần chỉ dựa vào dân mà thắng cường địch. Giặc đã lấp ló biên thùy, triều đình còn mở hội Diên Hồng hỏi ý dân. Vì thế mà cố kết được lòng người, mà thắng giặc.

Nhà Quốc hội to lớn của ta ngày nay, cũng có một phòng họp mang tên “Diên Hồng”, nhưng chưa một lần Quốc hội lên tiếng hỏi dân.

Hãy khiêm tốn lắng nghe ý dân! Ý dân là chung đúc từ hồn thiêng sông núi, là lời Tổ quốc khuyên răn.
Đảng ơi! Quốc hội ơi!

Đội ngũ cán bộ của Đảng của Quốc hội nhiều kẻ đã rơi vào tình trạng hôn mê, nên mới xảy ra loại người như Trịnh Xuân Thanh, Đinh La Thăng, Võ Kim Cự….

Võ Kim Cự nhanh chóng dâng mảnh đất thiêng mang tầm chiến lược có cảng nước sâu Sơn Dương, để ngoại bang lập thành một căn cứ hủy diệt mang tên Formosa. Nó mới phun nọc độc có một lần, mà hàng vạn tấn cá chết trắng dọc 200 cây số bờ biển bốn tỉnh miền Trung, khiến cả triệu người lao đao mất nghề. Dân chài lưới bốn tỉnh này có nguy cơ bỏ biển.

Võ Kim Cự rước một thứ công nghiệp bẩn nhất thế giới là thép và nhiệt điện vào địa phương, với chủ trương xây dựng 50km bờ biển Hà Tĩnh thành vùng du lịch sinh thái, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước để làm giàu cho Hà Tĩnh.

Than ôi, người như thế mà đứng đầu cả một tỉnh, trách sao cảnh nước nhược dân nghèo!
Và nữa, những chuyên gia soạn thảo luật cho Đặc khu với những lỗ hổng pháp lý khổng lồ, có nguy cơ gây mất an ninh, mất quyền tài phán. Liệu có phải họ chưa có kinh nghiệm, họ bị hụt hẫng về kiến thức? Nếu đúng như thế, còn là đại phúc cho dân, cho nước.

Đảng ơi! Quốc hội ơi!
Dẫu đưa vào  là một sự vụng về, ấu trĩ nhưng không phải vô lý mà Hiến pháp năm 1982 của nước ta có hẳn một điều xác quyết: “Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp”.

Đó là điều Quốc hội nói ra từ nỗi đau của dân tộc, qua mấy ngàn năm lịch sử được chung đúc lại.
Tôi viết bài này với quyền của công dân được lên tiếng với các việc có quan hệ đến mệnh nước. Mong rằng ba Đặc khu kinh tế Phú Quốc – Vân Đồn – Bắc Vân Phong, ba tử huyệt quốc gia sẽ chỉ là cơn ác mộng thoáng qua.

Văn Hóa Nghệ An

________________

Đọc thêm:

HỌ ĐANG RẮP TÂM LÀM CHO BẰNG ĐƯỢC?

Nếu các tập đoàn Trung Quốc đổ bộ vào ba đặc khu Việt Nam thì họ được quyền kinh doanh những gì? Có rất nhiều lĩnh vực “nhạy cảm” mà doanh nghiệp trong nước lâu nay vẫn bị làm khó thì đặc khu sẽ mở rộng toác cửa để “nhà đầu tư” Trung Quốc thâm nhập. Dựa vào “Phụ lục 4: Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại đặc khu (Ban hành kèm theo Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc)”, Trung Quốc có thể kinh doanh vài hoặc tất cả trong tổng cộng 131 danh mục sau:

  • Kinh doanh các loại pháo, trừ pháo nổ
  • Kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị
  • Kinh doanh quân trang, quân dụng cho lực lượng vũ trang, vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng quân sự, công an; linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật tư và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng chế tạo chúng

     (Chú thích của người viết: Vũ khí quân dụng sản xuất cho ai? Cho Trung Quốc, hay Việt Nam, hay có thể xuất khẩu đến nước khác? Việt Nam trở thành nơi mà Trung Quốc có thể sản xuất vũ khí dùng để bảo vệ Trung Quốc và dùng để tấn công Việt Nam nếu cần?)

  • Kinh doanh dịch vụ đòi nợ
  • Hành nghề luật sư
  • Hành nghề công chứng
  • Hành nghề giám định tư pháp trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả
  •  Kinh doanh chứng khoán
  •  Kinh doanh bảo hiểm
  •  Kinh doanh xổ số
  •  Kinh doanh casino
  •  Kinh doanh dịch vụ đặt cược

Rồi:

  • Kinh doanh xăng dầu
  • Kinh doanh khí
  • Kinh doanh dịch vụ nổ mìn

Kể cả:

  •  Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
  •  Kinh doanh vàng
  •  Kinh doanh rượu
  •  Kinh doanh sản phẩm thuốc lá
  •  Kinh doanh khoáng sản
  •  Kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp
  •  Hoạt động dầu khí

(Trung Quốc có thể khai thác dầu khí ở các mỏ dầu Việt Nam và các mỏ khoáng sản Việt Nam?)

Thậm chí:

  •  Kinh doanh cảng hàng không, sân bay
  •  Kinh doanh dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay

(Trung Quốc được quyền khai thác sân bay Việt Nam hay họ có quyền xây sân bay để phục vụ cho họ? Có nguy cơ nào dẫn đến việc những sân bay này trở thành sân bay quân sự của Trung Quốc?)

Còn nữa:

  •  Kinh doanh dịch vụ bưu chính
  •  Kinh doanh dịch vụ viễn thông
  •  Hoạt động của nhà xuất bản
  •  Kinh doanh dịch vụ phát hành xuất bản phẩm
  •  Kinh doanh dịch vụ mạng xã hội
  •  Kinh doanh dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền
  •  Kinh doanh dịch vụ thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp
  •  Kinh doanh dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động, mạng Internet

(Ai kiểm soát việc phát hành và kiểm duyệt nội dung sách báo in bằng tiếng Hoa của các tập đoàn truyền thông Trung Quốc? Việt Nam làm gì nếu sách báo do Trung Quốc in ấn và phát hành tại Việt Nam đề cập đến đường lưỡi bò? Ai kiểm duyệt nội dung các chương trình “phát thanh, truyền hình trả tiền”; nếu các chương trình này ra rả những show giải trí bôi nhọ Việt Nam hoặc kích động chủ nghĩa ái quốc Trung Quốc ngay trong lòng Việt Nam? Ai chịu trách nhiệm nếu một mạng xã hội Weibo phiên bản Việt Nam trở thành nơi mà ngày đêm người Trung Quốc kích động chủ quyền biển đảo theo “tinh thần” Bắc Kinh?…)

Chưa hết, tập đoàn Trung Quốc còn có thể:

  •  Kinh doanh dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền “.vn”
  •  Kinh doanh các thiết bị gây nhiễu, phá sóng thông tin di động
  •  Kinh doanh dịch vụ thực hiện kỹ thuật mang thai hộ
  •  Kinh doanh dịch vụ phát hành và phổ biến phim (Những “Biển Đỏ” sẽ được chính thức phát hành tại Việt Nam, tại các đặc khu, và Việt Nam không thể làm gì à?)
  •  Kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường
  •  Kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế (Trung Quốc mặc sức đưa du khách sang Việt Nam sao?)
  •  Kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu (Sẽ có những chương trình nhảy múa ca tụng Mao Trạch Đông và Tập Cận Bình phát sóng ngay tại Việt Nam?)

Và còn nữa, Trung Quốc còn được phép:

  • Mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia (Rồi ai sẽ kiểm soát các cuộc chảy máu cổ vật?)
  •  Nhập khẩu phế liệu (Ai chịu trách nhiệm khi Việt Nam biến thành bãi phế liệu nhập từ Trung Quốc?)

Có thể những diễn dịch trên là “quá lo xa” nhưng có thể thấy rõ rằng toàn bộ nội dung “Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc” đã được soạn, để “trình Quốc hội”, bằng một thái độ hời hợt cực kỳ nguy hiểm. Những người cố vấn hoặc chủ trương soạn dự luật này, hoặc quá thiếu hiểu biết về nhiều mặt trong đó có pháp lý, hoặc họ bất chấp đến mức chẳng cần quan tâm đến chủ quyền. Họ cần tiền đến mức có thể bán rẻ quốc gia vậy sao? Hay họ đang rắp tâm làm điều gì đó khác thậm chí nguy hiểm hơn vạn lần?

Mục 54.4 dự luật đặc khu: “Công dân của nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh sử dụng giấy thông hành hợp lệ … được miễn thị thực …” Nước láng giềng ấy là nước nào thế? Thụy Sĩ chăng? (chú thích của Trần Hữu Dũng)

FB Mạnh Kim

_______________

Đọc thêm:

Nhà báo Đoàn Bảo Châu phỏng vấn kinh tế gia Phạm Chi Lan về Dự luật Đặc khu

LTS: Dự luật đơn vị Hành chính – Kinh tế Đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc (gọi tắt là Luật Đặc khu), hiện đang được mang ra bàn thảo tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa 14 . Dự luật này cho phép người nước ngoài thuê đất dài hạn, lên tới 99 năm, có khả năng sẽ được Quốc hội thông qua trong tuần tới.

Đông đảo người dân Việt Nam trong và ngoài nước, đủ mọi thành phần, hiện đang lên tiếng phản đối dự luật này, bởi họ lo ngại an ninh quốc gia bị đe dọa, khi những người thuê đất dài hạn kia là người Trung Quốc, hoặc người từ nước khác làm trung gian, giúp người Trung Quốc thuê đất ở những khu vực hiểm yếu tới 99 năm.

Nhân sự kiện này, nhà báo Đoàn Bảo Châu phỏng vấn chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, bà Lan cho rằng: “Dự luật này rất nên dừng lại, Quốc hội đừng thông qua vội, để hỏi ý kiến thêm của các chuyên gia về các lĩnh vực khác nhau, không phải chỉ kinh tế, mà cả xã hội, các chuyên gia về an ninh, quốc phòng nhìn từ nhiều góc độ, để xem xét lại…”. Tiếng Dân xin được gỡ băng video clip phỏng vấn này, kính mời quý độc giả đọc tiếp.

____

5-6-2018

PVHiện nay trên mạng XH cũng như trên báo chí cũng đang bàn luận rất nhiều về việc Quốc hội chuẩn bị thông qua luật về đặc khu, bà đánh giá như thế nào về dự luật này?

Bà Phạm Chi Lan: Tôi nghĩ dự luật này rất nên dừng lại, Quốc hội đừng thông qua vội, để hỏi thêm ý kiến của các chuyên gia về các lĩnh vực khác nhau, không phải chỉ kinh tế, mà cả xã hội và chuyên gia về an ninh, quốc phòng nhìn từ nhiều góc độ để xem xét lại.

Thứ hai nữa là rất cần phải hỏi ý kiến của đông đảo người dân. Bởi vì trong những ngày vừa qua, khi tôi đi các nơi, kể cả gặp những người rất bình thường, hoặc là ngồi trên xe taxi, thì những người lái xe taxi cũng chia sẻ với tôi nỗi bức xúc, lo lắng của họ trước [dự] luật này.

Hầu hết mọi người đều cho rằng, đưa ra Luật Đặc khu này, nhất là với điều kiện 99 năm thì có thể biến 3 đặc khu của VN thành vùng lãnh thổ trên thực tế của nước láng giềng Trung Quốc. Một đất nước mà có rất nhiều tham vọng về lãnh thổ, cũng như có những nhu cầu về di dân của họ, đi khắp nơi để đỡ gánh nặng dân số trên mảnh đất của họ.

Tham vọng của TQ đối với VN thì không hề che giấu trong suốt nhiều năm rồi, tôi không nói đến lịch sử nghìn năm ai cũng thuộc, bất cứ người dân VN nào ai cũng thuộc. Ngay cả trong lịch sử hiện đại VN, thì tham vọng lãnh thổ của TQ kể từ những dấu mốc như cuộc chiến tranh biên giới vào những năm ’79, rồi những cuộc chiếm các đảo của VN như Gạc Ma, rồi tất cả các đảo khác của VN trong suốt thời gian vừa qua. Gần đây nhất như chuyện TQ tăng cường vai trò của họ, quân sự hóa các bãi đá mà họ biến thành đảo nhân tạo ở các vùng thuộc lãnh thổ VN ở Biển Đông, cho thấy rất rõ tham vọng không hề che giấu đó.

Trong điều kiện như vậy, mà nền kinh tế VN cũng đang bị lệ thuộc ngày càng nặng nề nhiều hơn vào TQ về nguồn cung cho rất nhiều vật tư đầu vào cũng như việc xuất khẩu một loạt các sản phẩm của VN, thì cái mối nguy của việc 3 đặc khu, có thể biến thành những vùng lãnh thổ của TQ ở VN là rất lớn. Chính vì vậy mà những người dân bình thường của VN cũng đều bày tỏ sự lo lắng của họ.

 Đứng về góc độ kinh tế, góc độ chuyên gia, chúng tôi cũng thấy trong thời đại của cách mạng công nghiệp 4.0 và toàn cầu hóa hiện nay, trong bối cảnh VN đã tham gia FTA, Hiệp định Thương mại Tự do với các nước khác nhau trên thế giới, với những cam kết rất cao về mở cửa thị trường ở VN về tạo thuận lợi cho nhà đầu tư từ các nước đến làm ăn kinh doanh với VN, thì những mô hình như đặc khu kinh tế thực sự không cần thiết nữa.

Thứ hai nữa là, những đặc khu đó được đưa ra trong dự thảo luật cùng với các văn bản, phụ lục kèm theo, đưa ra những lợi ích vô cùng to lớn cho các nhà đầu tư vào đó, thì điều đó trái với những cam kết FTA của VN để tạo môi trường bình đẳng cho các nhà đầu tư khác nhau trên mảnh đất VN. Và đặc biệt nó gây hiệu ứng chèn lấn đối với doanh nghiệp VN, đối với công dân VN, về rất nhiều việc mà vốn dĩ luật pháp chưa cho người VN làm trên đất nước mình, thì lại mở ra cho người nước ngoài làm.

Kể cả những điều kiện kinh doanh (ĐKKD) chẳng hạn, vốn dĩ điều kiện kinh doanh được lập ra là nhằm bảo vệ lợi ích cho xã hội, cho người dân, hoặc là môi trường, trong những lĩnh vực cần kiểm soát, thì bây giờ vào đặc khu, cũng mở ra rất nhiều ĐKKD, dỡ bỏ đi để cho nhà đầu tư tự do làm, thì điều đó có thể gây phương hại vô cùng to lớn cho xã hội, cho người dân, không chỉ ở trong đặc khu đó. Tôi cho là, có quá nhiều vấn đề trong dự luật đặc khu này cần phải xem xét lại.

Tôi rất mong là Quốc hội lần này dừng lại, chưa thông qua luật này, để có thể lắng nghe nhiều hơn ý kiến của người dân, của doanh nghiệp, của tất cả các đối tượng khác trong xã hội, đặc biệt là các chuyên gia đang vô cùng bức xúc về vấn đề này.

PV: Thế nhưng mà bà Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim ngân có phát biểu rằng, Bộ chính trị (BCT) đã thông qua, vậy thì QH cần phải bàn để đưa ra được luật, bà nghĩ sao về phát biểu của bà Chủ tịch QH?

Bà Phạm Chi Lan: Tôi nghĩ khi BCT thông qua thì có thể BCT đến những chủ trương lớn, đến một chiến lược và mong muốn tạo cơ hội cho VN phát triển. Tôi cũng thực lòng mong muốn và tin rằng BCT muốn thiết kế ra cách để VN phá triển một cách đột phá, chứ không phải như nhiều người nghĩ là một cách để làm cho VN bất lợi trước nước láng giềng. Tôi thực lòng mong muốn là như vậy.

Nhưng rất có thể là, khi thông qua chủ trương lớn đó, thì BCT không xem xét được đến những nhân tố cụ thể, những điều cụ thể được đưa vào trong luật. Và nhất là đưa vào trong các phụ lục kèm theo luật mà nó mở toang cánh cửa của VN quá rộng cho các nhà đầu tư nước ngoài, cũng như không được báo cáo hết hoặc tính toán hết những tác động có thể có của dự luật này.

Vì vậy cho nên, có thể BCT có chủ trương nhưng mà cũng vẫn không thấu đáo được, thì tôi vẫn mong là xưa nay chúng ta vẫn nói đến “ý đảng, lòng dân”, thì lần này ý đảng nên nghe thêm lòng dân, để có thể thực sự hòa hợp được với nhau. Và vì vậy, cho nên bà Chủ tịch QH nói vậy tôi cũng vẫn mong là QH với tư cách là đại diện của dân, làm sao kết hợp đưa được ý kiến của dân vào luật, chứ không chỉ một chiều theo chủ trương lớn đã được đưa ra. Vì tôi thực sự e rằng, chủ trương lớn đó thường không đi được vào các chi tiết, mà nhiều khi cái chết là ở các chi tiết, chứ không phải ở bản thân các văn bản pháp luật.

Tôi cũng xin chia sẻ kinh nghiệm cá nhân tôi tham gia rất nhiều vào việc đóng góp vào các dự thảo luật lâu nay, cũng như các dự thảo chính sách của nhà nước VN, thì tôi luôn luôn e sợ nhất là việc các nhóm lợi ích cài cắm những lợi ích riêng của mình. Nhiều khi chỉ vào một vài từ trong văn bản pháp luật, thì nó có thể làm lệch lạc hoàn toàn ý tưởng của luật đó đi.

Ví dụ, khi luật muốn tạo điều kiện tự do kinh doanh hoặc cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp với nhau, nhưng chỉ cần cài cắm vào đó vài điều thôi, như việc cụ thể này do chính phủ ban hành các quy định. Như vậy thôi, cũng có thể làm cho những ý tưởng của luật vốn dĩ là tốt, thì có thể bị méo mó, bị lệch lạc hết, trong quá trình ban hành văn bản tiếp theo, nhất là trong quá trình thực hiện sau này.

Nhìn vào Dự luật đặc khu này, tôi cũng có thể thấy rất nhiều điều cài cắm lợi ích theo kiểu đó.

PV: Với tư cách là một phóng viên không chuyên về kinh tế, mong muốn bà góp thêm ý kiến về việc những đặc khu được mở ra vào những năm 70, 80 ở thế kỷ trước, như Thẩm Quyến chẳng hạn, tại sao họ thành công được bởi vì lúc đó nền kinh tế của họ là nền kinh tế kế hoạch, và họ mở ra đặc khu để có những chính sách ưu đãi về luật, về thuế… do vậy mới phát triển được. Bây giờ với thời đại công nghệ 4.0 và thế giới phẳng thì việc mở ra những đặc khu liệu rằng hiệu quả kinh tế nó được như người ta kỳ vọng hay không? Bởi vì mình không thể chạy theo thế giới, một điều mà người ta đã làm 30-40 năm rồi, trong khi mình đặt niềm tin vào một cái rất mơ hồ, sẽ mang nhiều rủi ro. Bà có đồng ý với ý kiến đó không?

Bà Phạm Chi Lan: Tôi đồng ý với ý kiến đó. Thực ra rõ ràng khi ở TQ, ông Đặng Tiểu Bình chủ trương phát triển Thẩm Quyến là trong bối cảnh nền kinh tế TQ đang rất muốn có cải cách kinh tế mạnh mẽ hơn. Từ những người có tư tưởng cải cách mạnh mẽ như Đặng Tiểu Bình, nhưng không thể áp dụng rộng rãi trên toàn quốc được, cho nên ông ta phải tìm một chỗ để thí điểm mô hình đó. Từ đó chứng minh lợi ích của việc cải cách của những chính sách mới thông thoáng, mở cửa hơn, thay vì chính sách tập trung vào trong tay nhà nước như trước đó, để từ đó nhân rộng ra.

Tác dụng của Thẩm Quyến không phải chỉ làm cho vùng Thẩm Quyến phát triển, mà quan trọng nhất là những thể chế đó sau đó được áp dụng trên toàn TQ và làm cho TQ mạnh lên về mặt kinh tế.

Đối với VN bây giờ cũng vậy, trải qua ngần ấy năm cải cách rồi, như tôi đã nói, VN còn đang tham gia các FTA, với những cam kết rất mạnh mẽ về mở cửa thị trường. Có thể nói, các FTA thế hệ mới như TPTPP hoặc EVFTA mà VN đang tham gia là những FTA được coi là của thế hệ mới, trong đó có những cam kết rất mạnh mẽ về đổi mới thể chế ở VN nữa. Tôi cho rằng, với việc như vậy, VN nên tập trung vào thực hiện những cam kết của mình đã có với các nước và nên xem xét lại trong thời gian vừa qua, trong quá trình cải cách của mình, còn những gì nữa cần phải thực hiện tiếp để cho nền kinh tế có thể phát triển mạnh mẽ hơn trên cả nước.

Và nếu có thí điểm, thì thí điểm là những chính sách khó, là những biện pháp khó cho những FTA thế hệ mới mà VN chưa dám làm ngay trên quy mô cả nước, thì có thể làm trong phạm vi hẹp.

Ví dụ như việc người ta đưa ra những yêu cầu về bảo hộ sở hữu trí tuệ để cho công nghệ cao có thể phát triển, thì có thể trong các khu công nghệ cao rất cần áp dụng một chế độ bảo hộ sở hữu trí tuệ thật mạnh, để làm cho các nhà đầu tư mạnh dạn chuyển giao công nghệ cho VN. Đấy là cách thí điểm thể chế.

Mọi thí điểm thể chế là để sau đó nhân rộng ra cho tất cả, chứ không phải gom lại mỗi đặc khu như thế này, nó biến thành một quốc gia nhỏ trong một quốc gia lớn, trong đó có những thể chế riêng biệt mà không áp dụng được cho cả nước. Tôi nghĩ cái đó không phải. Hơn nữa VN cũng chưa cần phải học nhiều ở các nước khác, mà học ngay bài học của chính mình. Ở VN lớn nhỏ đã có chừng gần 500 các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao… đã được hình thành trong những năm vừa qua, hay như các khu kinh tế ven biển…

Nhưng trong thời gian vừa qua, kể cả một số chính sách đặc biệt được tạo ra cũng vẫn chưa đủ để làm các đặc khu này phát triển lên. Do vậy, VN cần phải có một nghiên cứu, đánh giá thấu đáo, tại sao các chính sách này lại chưa làm được cho những khu mà VN đã từng chủ trương tạo cho nó những cơ chế đặc biệt để phát triển, mà lại chưa phát triển được. Trên cơ sở đó thì rút kinh nghiệm, thấy thể chế nào cần bồi đắp cho nó thì tập trung bồi đắp, để cho những khu mà VN đã hoạch định rồi có thể phát triển lên và từ đấy nhân rộng ra cả nước.

Tôi nghĩ đấy là cách đơn giản hơn nhiều. Tôi chỉ muốn nói đến ví dụ khu công nghệ cao (CNC) Hòa Lạc, vào tháng 3/2018 ông Phùng Quốc Hiển, Phó Chủ tịch QH đã đến thăm khu công nghệ cao Hòa Lạc ở ngay Hà Nội, thì sau 20 năm, khu CNC Hòa Lạc vẫn chưa phát triển được như VN mong muốn. Số nhà đầu tư nước ngoài mang công nghệ cao vào đó vẫn còn rất hạn hẹp. Tại sao lại như vậy?

Khi ông Phùng Quốc Hiển cùng đoàn ĐBQH đến thẩm tra mới hiểu ở đó, mặc dù chính phủ đã ban hành rất nhiều những chính sách tốt cho khu CNC này, nhưng không áp dụng được trên thực tế, bởi nó vướng 13 luật pháp khác chưa sửa, để làm cho những chính sách này được thự thi. Và vì vướng ở 23 luật này, mà khu CNC Hòa Lạc không có điều kiện để phát triển được.

Thế thì tôi nghĩ, đem luôn kinh nghiệm mà ông Phùng Quốc Hiển đã thấy này, tập trung sửa những quy định trong 13 luật pháp đang cản trở khu CNC Hòa Lạc, áp dụng vào nó để xem CNC Hòa Lạc có bật được lên hay không. Đấy là một cái cách để thí điểm thể chế, đâu cần tìm những kinh nghiệm khác ở đâu xa nữa cho VN?

Điều cuối cùng tôi muốn nói là, trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 như thế này, thì không có những ngành nghề, những lĩnh vực gì nó kéo dài quá đâu. Nếu VN cứ mong muốn là dùng những chính sách ưu đãi thật nhiều, kéo dài thật lâu về thuế, về tiền thuê đất, về thời hạn sử dụng đất… thì những cái đó cũng vô nghĩa. Trong thời đại hiện nay, nó không có tác dụng thực sự với những người đầu tư sử dụng công nghệ mà tuổi thọ hay vòng đời của các sản phẩm nó ngắn lại rất đáng kể và nó phải thay đổi liên tục để cạnh tranh, trong khi đó nó lại chỉ tạo cơ hội cho những người đầu cơ, đặc biệt là đầu cơ trục lợi trên đất đai.

PV: Bà Chủ tịch Quốc hội có nói rằng, những đặc khu kinh tế, nếu bỏ vào 1 đồng thì sẽ thu về 10 đồng hoặc 100 đồng. Với tư cách là một người dân, tôi nghe như vậy, tôi cảm thấy rất là mơ hồ. Bởi vì khi phát thảo ra đặc khu kinh tế thì phải có một ý tưởng rõ ràng, có thể dự đoán rằng, trong 10 năm, 20 năm, 30 năm nữa, thì đặc khu kinh tế đó, có thể mang về lợi ích kinh tế gì cho đất nước. Nhưng mà tôi sợ rằng, phát biểu của bà Kim Ngân hoàn toàn vô căn cứ và mang tính cảm tính. Bà có đồng ý với quan điểm này không?

Bà Phạm Chi Lan: Tôi nghĩ có thể bà Kim Ngân đã được ai đó, chuyên gia nào đó tư vấn và gợi mở cho bà ấy con số đó. Cá nhân tôi thật sự không tin con số đó. Có thể là có dòng vốn đầu tư vào, khi mà nói bỏ ra 1 đồng, có người bỏ ra 100 đồng thì tôi nghĩ là dòng vốn của nhà nhà đầu tư nào đó mang vào, có thể là như vậy. Nhưng trên thực tế, ít nhất là 2 trong 3 đặc khu này là Vân Đồn và Phú Quốc, thì chưa cần có chính sách đặc khu gì, người ta đã mua đất, đã xây dựng, đã làm rất nhiều thứ rồi.

Đất đai ở Phú Quốc gần như đã hết, cho các khu resort, cho các khu nghỉ dưỡng, cho các dịch vụ du lịch khác nhau, mà chưa cần có chính sách ưu đãi gì. Tôi nghĩ, khi người ta thấy có cơ hội kinh doanh, là các nhà đầu tư có thể nhảy vào. Thì trong trường hợp này, chúng ta không cần bỏ 1 đồng ưu đãi về thuế, về đất, đã có thể có nhiều đồng của các nhà đầu tư vào rồi. Cho nên tôi nghĩ là, cứ nhìn vào Phú Quốc như vậy rồi lại nghĩ khi trở thành đặc khu thì nhiều hơn. Tôi cho là không phải như vậy đâu. Vả lại số tiền người ta bỏ vào bao nhiêu, không quan trọng bằng lợi ích thực sự là VN có được bao nhiêu.

Lâu nay có thể nói là trong chính sách đầu tư nước ngoài, VN thu hút được nhiều dự án đầu tư nước ngoài, nhưng lợi ích giành lại cho đất nước VN, nói thật, khiêm tốn lắm. VN bị tình trạng như ngôn ngữ của tổ chức IFC (International Finance Corporation) của ngân hàng thế giới, người ta vẫn gọi là ở VN vẫn hay theo cuộc đua xuống đáy, theo cái cách gọi là “lấy của người nghèo cho người giàu”, khi chúng ta miễn thuế nhiều quá cho các nhà đầu tư lớn. Trên thực tế, VN tình trạng chuyển giá, tình trạng né thuế ở VN, báo cáo lỗ hoài trong nhiều năm, nhưng vẫn xin mở rộng dự án đầu tư là có thật trong nhiều năm nay ở VN mà đến bây giờ vẫn chưa khắc phục được. Cho nên, nói về lợi ích có thể mang lại cho VN thì phải cần rất thận trọng.

Họ có thể mang lại được tốc độ tăng trưởng GDP, về hình thức thì cao, xuất khẩu cao, nhưng mà tăng trưởng cao, về những nguyên tố này thì cái chính, cốt lõi nhất đối với người VN vẫn phải xem là, vậy thì nền kinh tế VN, người dân VN được hưởng lợi ích gì từ tất cả những cái này, hay là lợi ích chủ yếu vẫn chảy vào túi của các nhà đầu tư nhiều hơn.

PV: Vừa rồi có đoàn phóng viên đi thăm Thẩm Quyến về, đồng loạt họ lên bài, ca ngợi mô hình đặc khu, cộng thêm nỗi lo lắng của người dân và thật ra thì ai cũng biết rằng khi mà mở đặc khu kinh tế thì người TQ sẽ nhảy vào, gần như điều này là chắc chắn. Nhưng mà ngược lại, như tôi quan sát và dự đoán, luật về đặc khu sẽ được thông qua. Và như vậy, nó sẽ mang lại hiểm họa vô cùng to lớn cho đất nước. Bà có đồng ý với nhận định của tôi không?

Bà Phạm Chi Lan: Tôi nghĩ, cách đi tham quan nhiều khi không giúp được nhiều cho người ta mở mắt thật sự, bởi vì tham quan nếu mà muốn hiểu đầy đủ về mô hình đặc khu thì cần xem cả những thành công và những cái thất bại của đất nước khác nữa. Những tổng kết của Ngân hàng Thế giới và các nơi đưa ra thì vẫn thường đánh giá là 50/50. Có khoảng 50% thành công, cũng có khoảng 50% thất bại nặng nề. Và khi thất bại thì cái giá phải trả của nền kinh tế và của người dân là rất lớn. Điều thứ hai là mối lo về vai trò của Trung Quốc thì không chỉ ở VN, nhưng gần đây ở các nước như Sri Lanca chẳng hạn, tiếp nhận đầu tư từ TQ vào một cảng biển, cuối cùng không có tiền trả cho TQ và phải bán toàn bộ quyền sử dụng, khai thác cảng biển đó cho TQ, là bài học đau đớn mà nhiều nơi đã nhận thấy.

Châu Phi chẳng hạn, cũng tiếp nhận rất nhiều dự án đầu tư của TQ, để trở thành con nợ của TQ, đó là điều mà ai cũng lo sợ. Tôi nghĩ là đối với VN, là nước kề cận TQ mà như tôi đã nói từ đầu về tham vọng của TQ đối với VN không phải che giấu, thì đương nhiên nó gây nên mối lo lắng trong bất kỳ người dân VN nào có tinh thần dân tộc hoặc biết lo lắng đến vận mệnh của đất nước, đến tương lai của con em, mối lo là TQ có thể là những nhà đầu tư chính trong các đặc khu này. Cũng có thể là ban đầu họ chưa vào nhiều đâu, bởi vì họ có thể mang danh là nhà đầu tư VN, mang danh là nhà đầu tư đâu đó, trong thế giới hiện nay, với việc chuyển tịch rất nhanh của dòng vốn đầu tư của những người chủ, từ ông chủ A sang ông chủ B rất dễ dàng nhanh chóng, với những hình thức như mua lại, sáp nhập, rồi mua bán với nhau. Và quyền tự do đặc khu dành cho các nhà đầu tư về mua bán doanh nghiệp đó, rất có thể chỉ là một số năm ít ỏi thôi. Chưa chắc đã cần chờ đến 50 năm, 70 năm hay 99 năm đâu, thì các đặc khu này có thể rơi vào tay người TQ ở mức độ rất cao, đến mức họ khống chế hoàn toàn. Đấy là điều thật sự tôi lo lắng.

PV: Cảm ơn bà rất là nhiều, xin chúc bà nhiều sức khỏe.

Tiếng Dân

Có thể bạn sẽ thích

Bình Luận

Your email address will not be published.