Báo hay cho người bận rộn

Phạm Quỳnh và bản án tử hình oan khuất

0

Phạm Quỳnh và bản án tử hình đối với ông

Từ nhỏ, tôi đã được biết Phạm Quỳnh qua bộ Nam Phong tạp chí mà ông thân sinh ra tôi để trong tủ sách khá lớn của mình. Thêm vào đó, theo yêu cầu của thầy giáo, tôi còn phải học thuộc lòng một đoạn văn xuôi của Phạm Quỳnh viết về sông Hương trong đó có một câu êm dịu, lôi cuốn trí tưởng của tôi, một học sinh mười tuổi: “Con sông Hương Giang nước trong như vắt, dòng phẳng như tờ, ít khi có chút gợn sóng…”. Rồi lại được đọc bút ký của Phạm Quỳnh về chuyến đi Pháp của ông. Càng đọc càng thích thú. Lúc đó, tôi học lớp nhất, tức lớp năm bây giờ, và mới lên mười!

Ở tiểu thiếu niên, bậc tiểu học, tôi may mắn và vinh hạnh được học những thày giáo mẫu mực về đạo đức và xuất sắc về giảng dạy (tại trường Ngô Sĩ Liên, phố Hàm Long, Hà Nội). Trong số đó, có thày Nguyễn Đức Ban. Thày Ban chuyên dạy lớp nhất. Cuối năm lớp nhất (1949 – 1950) trong một giờ tập đọc và giảng văn đoạn trích bài viết của Phạm Quỳnh về sông Hương nói trên, thầy Ban dừng lại một chút để giới thiệu về tác giả.

Tôi nhớ mãi hai điều thày nói: Phạm Quỳnh rất yêu và rất tự hào về văn hóa nước ta, nhất là rất tự hào về Truyện Kiều; nhưng ông đã bị giết oan (Không nói rõ bị giết oan vì tội gì).

Rồi thầy Ban giơ Tạp chí Nam Phong, số có ảnh Phạm Quỳnh, cho cả lớp nhìn. Sau đó, thầy cho học sinh cả lớp chuyền tay từng bàn lần lượt xem cuốn tạp chí có tấm ảnh ấy.

Trước khi giảng văn, thầy đọc mẫu và hướng dẫn cách đọc diễn cảm đoạn trích nói trên một cách tỉ mỉ và sâu sắc. “Con sông Hương Giang nước trong như vắt, dòng phẳng như tờ, ít khi có chút gợn sóng…”.

Tháng 7-1961, tốt nghiệp khoa Văn – Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi xung phong lên công tác tại vùng núi Tây Bắc và được cử lên Điện Biên làm công tác văn hóa và giáo dục.

Mấy năm dạy học ở Điện Biên, tôi được quen biết nhà văn Mạc Phi, một cán bộ văn hóa từ Hà Nội lên công tác ở Sở Văn hóa Khu tự trị Thái – Mèo (sau đổi thành Khu Tây Bắc). Mạc Phi là một người lịch thiệp và có nhiều công lao trong việc nghiên cứu, biên dịch một số tác phẩm văn học dân gian của dân tộc Thái (Tây Bắc nước ta).

Khoảng tháng 12-1964, Mạc Phi dự giờ giảng văn của tôi ở lớp chín (tương đương lớp mười một hiện nay) bài Luận về chánh học cùng tà thuyết của Ngô Đức Kế.

Dự giờ giảng của tôi xong, Mạc Phi đặt vấn đề với tôi: Không thể kết luận rằng câu nói của Phạm Quỳnh “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” là ru ngủ nhân dân, kéo nhân dân xa rời mục tiêu độc lập dân tộc chống Pháp cứu nước. Cần phải thấy rõ âm mưu hiểm độc của thực dân Pháp là làm cho thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức Việt Nam quên tiếng mẹ đẻ, sùng bái tiếng Pháp, sùng bái văn hóa Pháp, coi thường, thậm chí coi khinh di sản văn hóa Việt Nam.

Thời ấy, tất cả các trường trung học đều dùng tiếng Pháp trong tất cả các giờ giảng, còn tiếng Việt chỉ được sử dụng trong bộ môn “tiếng Việt” (Annamite) mỗi tuần khoảng hai tiết mà thôi! Thời ấy, một nhà văn đã viết vở kịch Ông Tây An nam phê phán thói khinh thường tiếng mẹ đẻ. Anh sinh viên trong vở kịch nói chuyện với bố mẹ toàn bằng một thứ tiếng Pháp giả cầy, một thứ tiếng Tây bồi rất lố bịch. Vở kịch được hoan nghênh nhiệt liệt trên sân khấu Hà Nội trong nhiều đêm diễn. Vậy thì, rõ ràng việc giữ gìn giá trị to lớn của Truyện Kiều và của tiếng Việt trên tạp chí công khai và hợp pháp, tạp chí Nam Phong, của Phạm Quỳnh đã góp phần thức tỉnh ý thức tôn trọng tiếng Việt và di sản văn hóa Việt Nam trong một xã hội đang bị Âu hóa và đồng thời góp phần chống lại âm mưu làm lu mờ văn hóa Việt Nam, tôn thờ mù quáng tiếng Pháp và văn hóa Pháp! Nhà văn Mạc Phi phân tích như thế!

Năm 1966, tại Hà Nội, lần đầu tiên tôi được nhà cách mạng, nhà sử học Trần Huy Liệu tiếp và trả lời một số câu phỏng vấn về cuộc đời của ông, về Phạm Quỳnh, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp v.v…

Suốt buổi gặp gỡ, thông qua những lập luận chặt chẽ và gọn gàng, Trần Huy Liệu tự thể hiện là một con người có tư duy sâu sắc và sáng suốt.

Đề cập đến vấn đề Phạm Quỳnh, ông gợi ý với tôi sáu điểm:

  1. Nên tìm gặp hai người đã trực tiếp đi bắt Phạm Quỳnh theo lệnh của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương (là tên gọi tỉnh Thừa Thiên hồi Cách mạng tháng Tám): Đó là Phan Hàm (Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam về hưu, đã mất tại TPHCM cách đây mấy năm (TG.) và Võ Quang Hồ (Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam về hưu, hiện thường tại TPHCM (TG).
  2. Vai trò của Phạm Quỳnh trong Nam Phong tạp chí: Trong Nam Phong tạp chí, Phạm Quỳnh là nhân vật trụ cột mặc dầu Marty (Trưởng tòa Chính trị tại Phủ Toàn quyền) là một đồng sáng lập viên cùng với Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác.
  3. Nội dung Nam Phong: Trong Nam Phong, không có bài nào của Phạm Quỳnh và của các tác giả khác hạ thấp văn hóa Việt Nam. Rất nhiều bài nghiên cứu nhằm khẳng định giá trị cao quý của văn hóa Việt Nam mấy ngàn năm lịch sử. Ngoài ra, tạp chí còn đăng nhiều sáng tác lành mạnh về đề tài đất nước của các nhà nho thời trước và nhà nho thời Phạm Quỳnh. Cho đến nay (1966), Nam Phong vẫn xứng đáng là một mẫu mực về cách làm tạp chí nghiên cứu.
  4. Tư tưởng Phạm Quỳnh: Tư tưởng Phạm Quỳnh chứa đựng một hạt nhân gồm hai mặt duy lý và duy cảm; hai mặt đó hợp nhất và cùng phản ánh lòng yêu nước của ông trên lĩnh vực văn hóa.
  5. Cái chết của Phạm Quỳnh: Ai giết? Ai chịu trách nhiệm trước lịch sử? Cái chết của Phạm Quỳnh là hậu quả tất yếu của chủ nghĩa tả khuynh ở một địa phương cụ thể, chủ nghĩa tả khuynh ở địa phương này (và một số không ít địa phương khác) lạc lõng trong toàn bộ cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 đại đoàn kết toàn dân và cơ bản không đổ máu do đường lối chính sách của Hồ Chí Minh.
  6. Những bằng chứng: Cần tìm ra kỳ được bằng chứng xác thực về cái chết của Phạm Quỳnh.

Tôi biết chắc chắn cụ Trần Huy Liệu nói tiếp, Phạm Quỳnh bị xử bắn theo một quyết định của những người có trách nhiệm cao nhất trong Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Thừa Thiên năm 1945. Nhưng vấn đề là ở chỗ: phải tìm ra văn bản cụ thể, bằng chứng cụ thể về vụ xử bắn ấy; từ đó, mới đưa ra được kết luận cuối cùng về cái chết của Phạm Quỳnh. Mà văn bản đó, cho đến nay, tôi (Trần Huy Liệu) vẫn chưa có trong tay.

Sau khi gợi ý cho tôi sáu vấn đề trên, cụ Trần Huy Liệu tóm tắt ý kiến của mình về nhân vật Phạm Quỳnh.

Ông nói:

Trong bão tố của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhận rõ sự tàn phá khốc liệt của thực dân Pháp đối với văn hóa truyền thống của dân tộc ta, Phạm Quỳnh muốn chống lại. Tuy nhiên, lượng sức mình không đủ can đảm dấn thân vào con đường cách mạng kiên cường, khó khăn, gian khổ và luôn luôn phải đối mặt với cái chết như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh v.v…, Phạm Quỳnh tìm một con đường khác dù sao cũng ít gian khổ hơn nhiều.

Đó chính là con đường đấu tranh công khai và hợp pháp trên lĩnh vực văn hóa! Đấu tranh công khai và hợp pháp trên lĩnh vực văn hóa tuy có những thuận lợi nhưng cũng không êm đềm và thanh thản! Chắc chắn Phạm Quỳnh ý thức sâu sắc được điều đó!!! Ông biết cách nắm lấy một cơ quan ngôn luận công khai và hợp pháp của thực dân Pháp và dùng chính cơ quan này để truyền bá khéo léo, giữ gìn khéo léo một phần tinh hoa của văn hóa Việt Nam đồng thời giới thiệu với bạn đọc một phần tinh hoa văn hóa phương Tây, nhất là văn hóa Pháp. Và Phạm Quỳnh đã thành công, thành công về căn bản!

Giữa những cặp mắt cú vọ của bộ máy mật thám Pháp về văn hóa (trong đó có cặp mắt lão luyện của Marty), trong sự hiểu lầm (sự hiểu lầm chân thành!) của nhân dân, nhất là của tầng lớp trí thức nho học và tây học yêu nước, Phạm Quỳnh ngậm đắng nuốt cay để tập trung công sức vào việc góp phần nuôi dưỡng rừng cây văn hóa truyền thống của dân tộc, trong đó có cây đại thụ Truyện Kiều, tiếp tục tươi xanh, không tàn úa! Ông chịu đựng tất cả, tất cả những lời nguyền rủa, những lời buộc tội, thậm chí chịu đựng cả cuộc hành hung bột phát của một nhóm sinh viên Hà Nội trước Cách mạng tháng Tám!

Tên ông đồng nghĩa với bán nước, với tay sai đắc lực của thực dân Pháp, với bán nước cầu vinh!!! Mặc!!! Ông chịu đựng, lặng lẽ chịu đựng!

Chắc chắn Phạm Quỳnh biết rõ mặt trận văn hóa hợp pháp và công khai chống thực dân có những khó khăn riêng không nhỏ.

Dưới sức ép tinh vi và trắng trợn của các chính sách văn hóa thực dân, Phạm Quỳnh đứng lên một cách khó khăn và kiên nhẫn trên lĩnh vực báo chí công khai và hợp pháp như một nhà văn hóa yêu nước. Và đóng góp của ông cho dân tộc chủ yếu thuộc lĩnh vực văn hóa và báo chí.

Trên cương vị Thượng thư Bộ Học và Thượng thư Bộ Lại, Phạm Quỳnh không có một hành động nào chống phá phong trào giải phóng dân tộc hoặc chống phá Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tất cả những ai cùng thời với ông đều thừa nhận ông là một Thượng thư liêm khiết. Trước khi bùng nổ Cách mạng tháng Tám, Phạm Quỳnh đã về hưu. Đêm đêm, trong biệt thự Hoa Đường (ngoại ô Thành nội Huế), một mình một ngọn đèn khuya, con người đã từng giữ hai chức vụ cao nhất Bộ Học và Bộ Lại lặng lẽ đọc sách, suy nghĩ và viết.

Những gợi ý trên đây của cụ Trần Huy Liệu giúp tôi bước đầu hiểu ra một số vấn đề cơ bản về nhân vật Phạm Quỳnh.

Năm 1979, tháng 9, rời Hà Nội, vào Sài Gòn, tôi chuyển từ nghề cầm phấn trên bục giảng sang nghề cầm máy ghi âm, bút, sổ tay và máy ảnh để chuyên về phỏng vấn, biên tập, nghiên cứu và viết.

Năm 1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi được gặp Thiếu tướng Phan Hàm để phỏng vấn về Đại tướng Võ Nguyên Giáp và về việc đi bắt Phạm Quỳnh.

Vấn đề Phạm Quỳnh, Thiếu tướng Phan Hàm cho biết: Theo lệnh của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương, tôi và anh Võ Quang Hồ (nay là Thiếu tướng về hưu) trực tiếp đi bắt Phạm Quỳnh vào khoảng 14 giờ ngày 23-8-1945 đúng vào lúc nổ ra cuộc khởi nghĩa của nhân dân Huế. Bắt tại biệt thự Hoa Đường của ông Quỳnh. Lúc ấy, ông Quỳnh, một vị Thượng thư đã về hưu, đang ngồi ăn cơm với vợ con trong biệt thự. Khi ông Quỳnh bị giải ra ô tô, vợ con ông đi theo. Ông quay lại dặn vợ con: Cứ yên tâm, chiều tối, tôi sẽ được cách mạng cho về. Biệt thự của ông bị niêm phong và sung công ngay lập tức!

Sau khi dẫn giải ông bằng ô tô đến nhà lao Thừa Phủ (Nội thành Huế) và tạm giam ở đó (cùng với Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân), hai chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ, nhận nhiệm vụ mới. Việc xử bắn Phạm Quỳnh diễn ra như thế nào, theo lệnh của ai và vào thời điểm nào, chúng tôi hoàn toàn không rõ.

Theo dòng hồi ức về việc đi bắt Phạm Quỳnh, Thiếu tướng Phan Hàm kể tiếp:

Khi bị bắt, ông Quỳnh đã về hưu. Căn biệt thự của ông mà tôi nhìn thoáng qua không sang trọng, không có những đồ đạc của tầng lớp quý phái, không có những đồ cổ đắt tiền. Dáng người ông hơi cao nhưng không đẫy đà, gương mặt toát lên vẻ thông minh của một người trí thức. Đặc biệt, tôi thấy bụng ông không phệ. Biết chúng tôi đến bắt, gương mặt Phạm Quỳnh hơi biến sắc một chút rồi nhanh chóng trở lại bình thường. Đang cùng vợ con ăn cơm, ông lập tức đứng dậy đi theo chúng tôi ra ô tô.

Việc đi bắt Phạm Quỳnh gây xao động ít nhiều trong tim óc tôi. Tôi cảm thấy trong việc bắt giam có một cái gì không phải, có một cái gì vội vã và thiếu cân nhắc. Ngay trên đường đi bắt Phạm Quỳnh, tôi đã thoáng nghĩ như vậy. Nhưng đây là lệnh của cấp trên! Sau này, tuy bị cuốn vào biết bao công tác quân sự suốt hai cuộc kháng chiến, đôi khi tôi vẫn lướt qua vấn đề cái chết của Phạm Quỳnh.

Về hưu, hễ nghĩ đến hình ảnh Phạm Quỳnh và vợ con lúc Phạm Quỳnh bị bắt, tôi lại cảm thấy chạnh lòng.

Tuổi thanh niên, ở Huế, như nhiều học sinh khác, tôi đã đọc Nam Phong các số cũ (vì vào thời gian chúng tôi đọc, khoảng những năm 40 thế kỷ XX, Nam Phong đã ngừng xuất bản). Nhờ những số đó, tôi hiểu thêm về văn hóa truyền thống Việt Nam, hiểu thêm về Truyện Kiều. Nhờ những số đó, bước đầu, tôi hiểu rằng văn hóa Pháp là cao đẹp nhưng văn hóa của dân tộc Việt Nam cũng rực rỡ, không thể mù quáng coi văn hóa Việt Nam của cha ông là cổ hủ, không thể xóa bỏ nền văn hóa ấy trong trường học và trong cuộc sống, càng không thể mù quáng tâng bốc và học đòi văn hóa Pháp!

Mấy chục năm trôi qua kể từ ngày trực tiếp đi bắt ông Quỳnh, bây giờ về hưu, có nhiều thời gian suy nghĩ, tôi cho rằng Nam Phong là một tạp chí yêu nước góp phần khẳng định tính nhân văn cao cả và tính trí tuệ sâu sắc của nền văn hóa truyền thống Việt Nam. Và như vậy, Phạm Quỳnh, chủ nhiệm kiêm chủ bút đồng thời là cây bút chủ lực của Nam Phong xứng đáng được ghi công số một.

Cũng cần phải xác nhận: Nam Phong là một trong những tạp chí nghiên cứu đầu tiên ở nước ta về văn hóa; đồng thời là một trong những tạp chí đầu tiên ở nước ta mà mỗi số đều in ba thứ chữ Việt, Pháp, Hán.

Thêm vào đó, Nam Phong không có sai sót nào đáng kể về mặt trình bày và về mo-rát. Một tạp chí in cả ba thứ chữ trong mỗi số nhưng hầu như không có sai sót về mo-rát và về trình bày cách đây khoảng 80 năm! Tay nghề của người biên tập và công nhân in như thế là cao!

Một tạp chí có nội dung tích cực và lành mạnh hoạt động công khai và hợp pháp dưới sự bảo trợ và theo dõi chặt chẽ của mật thám Pháp như Nam Phong tại sao lại bị đánh giá là phản động, bôi nhọ văn hóa dân tộc và tuyên truyền cho văn hóa thực dân??? Một giám đốc, một Tổng biên tập, một cây bút chủ lực của Nam Phong như Phạm Quỳnh tại sao lại bị kết án là bán nước???

Thiếu tướng Phan Hàm tiếp tục cho biết:

Ngày 28-8-1945, sáu người Pháp do Thiếu tá Cát-xtê-na đứng đầu nhảy dù xuống ga xe lửa Hiền Sĩ (cách tây bắc Huế khoảng 20km). Trong lúc chờ đợi anh Phan Tử Lăng (Ủy viên quân sự Thừa Thiên) đi báo cáo Ủy ban nhân dân Thừa Thiên, thì xế chiều 29-8-1945, các anh Cao Pha (nhóm trưởng, nay là Thiếu tướng về hưu), Tôn Thất Hoàng (nay là Đại tá về hưu), Đặng Văn Việt (Trung đoàn trưởng đánh thắng trận Đường số 4 nổi tiếng, đã về hưu) và mấy anh nữa (không có tôi và anh Võ Quang Hồ) hăng hái tự động đi bắt nhóm Casténa. Vừa bắt xong thì anh Phan Tử Lăng đến cho biết Ủy ban nhân dân Thừa Thiên cho phép bắt. Tuy nhiên, anh Phan Tử Lăng cũng phê bình nhóm anh Cao Pha về việc tự động đi bắt.

Công lệnh của Casténa ghi rõ: Theo lệnh của Chính phủ lâm thời Pháp (do de Gaulle đứng đầu), Casténa có nhiệm vụ liên lạc với các lực lượng Pháp ở Đông Dương và những nhân vật thân Pháp để bàn về vấn đề cướp lại Đông Dương khi thời cơ đến.

Lúc đó, đang bị giam giữ cùng với Ngô Đình Khôi và Ngô Huân tại nhà lao Thừa Phủ (trong thành Nội Huế), Phạm Quỳnh lập tức bị nghi ngờ có ý đồ câu kết với thực dân Pháp (qua Casténa) để lật đổ chính quyền cách mạng.

Mặc dầu chỉ nghi ngờ và chưa tìm ra được bằng chứng xác thực về việc Phạm Quỳnh chuẩn bị câu kết với thực dân Pháp, nhưng Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương (tức tỉnh Thừa Thiên) vẫn nhanh chóng kết án, và kết án tử hình Phạm Quỳnh! Bản án đã được thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật ở Thuận Hóa (tức Huế) sau Cách mạng tháng Tám! (Bị xử bắn cùng một lúc với Phạm Quỳnh là Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân).

Cuối tháng 12-1945, tôi và nhiều anh em khác đều chỉ được nghe dư luận là Ủy ban Khởi nghĩa Thừa Thiên xử bắn chứ không được nghe thông báo chính thức của cấp trên! Rồi câu chuyện về Phạm Quỳnh, trong tôi hầu như bị rơi vào quên lãng giữa hằng ha sa số công việc mới lạ và khó khăn của hai cuộc kháng chiến! Thỉnh thoảng lắm, vào dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, hình ảnh Phạm Quỳnh đang ăn cơm cùng gia đình tại biệt thự Hoa Đường bị bắt và giải lên ô tô rồi ngay sau đó, biệt thự bị niêm phong chợt thoáng hiện trong trí óc tôi với một nỗi xót xa…

Cũng giống như nhà sử học Trần Huy Liệu, Thiếu tướng Phan Hàm nói rõ ý kiến hợp tình hợp lý của mình:

Để kết luận công bằng về cái chết của Phạm Quỳnh, các nhà nghiên cứu cần tìm ra những bằng chứng xác thực về việc kết án tử hình và việc thi hành bản án đó đối với Phạm Quỳnh, ông quan đại thần đã về hưu của Nam triều Bảo Đại.

Những thông tin và những ý kiến trên đây của nhân chứng lịch sử Phan Hàm năm 1996 cộng với sáu điểm gợi ý kết hợp với phần tóm tắt về vấn đề Phạm Quỳnh của nhà cách mạng Trần Huy Liệu năm 1966 đã giúp tôi hiểu rõ thêm các uẩn khúc về cuộc đời ông chủ nhiệm kiêm chủ bút, kiêm đồng sáng lập tạp chí Nam Phong.

Tuy được biết ông Võ Quang Hồ, người đã cùng ông Phan Hàm đi bắt Phạm Quỳnh, lâu nay vẫn thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cho đến nay (2006), tôi vẫn chưa gặp được ông để hỏi thêm một số chi tiết.

*

Đầu năm 2004, sau 25 năm làm báo và nghiên cứu (1979 – 2004), tôi rời hẳn TPHCM, trở về Thủ đô Hà Nội, quê gốc của mình.

Ở Hà Nội, năm ngoái (2005), nhà văn Sơn Tùng, một trong những người bạn thân của tôi kể lại: Anh đã được nghe một vị lão thành cách mạng cho biết, việc kết án tử hình Phạm Quỳnh là do ý kiến chỉ đạo của một cán bộ cao cấp quan trọng bậc nhất toàn Trung Bộ trong thời gian bùng nổ Cách mạng tháng Tám tại tỉnh Thừa Thiên.

Tôi hỏi anh Sơn Tùng có bằng chứng xác thực nào không về ý kiến chỉ đạo của vị cán bộ cao cấp quan trọng bậc nhất toàn Trung Bộ nào đó. Nhà văn Sơn Tùng trả lời: Anh chỉ được nghe vị lão thành cách mạng nói trên cho biết như vậy mà thôi, còn ngoài ra không có một bằng chứng xác thực nào về việc vị cán bộ cao cấp nào đó chỉ đạo vụ kết án tử hình đối với Phạm Quỳnh.

*

Về phần mình, trong nhiều năm, kể từ sau buổi được gặp ông Trần Huy Liệu (1966), tôi đã đi nhiều nơi, gặp nhiều người, vào nhiều thư viện, đọc nhiều tài liệu. Tuy nhiên, vấn đề cái chết của Phạm Quỳnh vẫn nằm trong bóng tối!!!

Cuối năm 2003, tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi phỏng vấn Thiếu tướng Nguyễn An (nguyên Phó tư lệnh Đường 559 thời chống Mỹ, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần) về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Khi trả lời phỏng vấn, Thiếu tướng Nguyễn An cho biết: Trong các cơ quan ngôn luận phổ thông của Việt Minh Thừa Thiên – Huế sau Cách mạng tháng Tám có hai tờ nổi tiếng, tuần báo Quyết thắng và nhật báo Quyết chiến.

Cuối tháng 6 năm nay (2006), tại Thư viện Trung ương (Hà Nội), tôi đã tìm được nhật báo Cứu quốc (Trung ương) và nhật báo Quyết chiến, tuần báo Quyết thắng. Cả ba tờ đều có tư liệu về việc bắt và xử bắn Phạm Quỳnh. Nhật báo Cứu quốc (Trung ương) khổ A3, ký hiệu J500, số đặc biệt (khổ A4) kỷ niệm lần thứ nhất Cách mạng tháng Tám (trang 31) có bài Chiếm thành Huế (Tố Hữu kể, Tô Hoài viết). Trong bài, Tố Hữu (nguyên Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Huế 1945) kể lại rõ ràng: Khi cuộc khởi nghĩa giành chính quyền bắt đầu nổ ra ở Huế thì đúng vào lúc đó, 14 giờ ngày 23-8-1945, Phạm Quỳnh bị một chiến sĩ thay mặt cách mạng đến bắt tại nhà riêng khi Phạm Quỳnh đang ăn cơm cùng vợ con. Phạm Quỳnh run sợ và bị giải ra ô tô. Ngay sau đó, căn biệt thự của Phạm Quỳnh bị niêm phong và bị sung công.

Nhưng Tố Hữu chỉ kể cho Tô Hoài như vậy, nghĩa là chỉ kể lại chuyện bắt Phạm Quỳnh và giải đi, còn về vấn đề cái chết của Phạm Quỳnh thì Tố Hữu hoàn toàn không nhắc đến dù chỉ một lời! (Bài Chiếm thành Huế nói trên, Xưa & Nay đã đăng lại).

Nhật báo Quyết chiến (Khổ A3, ký hiệu J545). Mỗi số gồm 2 trang.

Dưới măng sét Quyết chiến là dòng chữ “Cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân cách mạng – Huế”.

Số 88 (ra ngày thứ tư, 5-12-1945), trang 1 (cột 2 và cột 3) và trang 2 (cột 4 và cột 5) đăng bản tin dài nhan đề “Ba tên Việt gian tối nguy hiểm Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân đã bị Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kết án tử hình và bị bắn ngay trong thời kỳ thiết quân luật. Tài sản và vật dụng của ba tên phản quốc ấy đều bị tịch thu và quốc hữu hóa” (nguyên văn từng dấu chấm phẩy).

Tuần báo Quyết thắng (khổ A3, ký hiệu J520). Mỗi số gồm 4 trang.

Dưới măng sét Quyết thắng là dòng chữ “Cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ”. Số 11 (ra ngày 9-12-1945), đầu trang 4 (tức trang cuối cùng), các cột 3, 4 và 5 đăng toàn văn thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa án quân sự Thuận Hóa (hồi ấy, Huế được gọi là Thuận Hóa).

Toàn văn thông báo đó như sau (ghi đúng từng dấu chấm phẩy):

“Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa án quân sự Thuận Hóa

Trước khi Tòa án đưa ra xét xử Việt gian, chúng tôi xin nói về vụ án ba tên Việt gian chúng tôi đã xử trong thời kỳ thiết quân luật để ngài rõ và nhờ ngài công bố cho dân chúng đều biết kết quả một đời phản quốc của chúng.

Án phản quốc

Ba tên Việt gian tối nguy hiểm:

  1. Ngô Đình Khôi: Trước làm tay sai cho thực dân Pháp đàn áp phong trào cách mạng ở Quảng Nam và Quảng Ngãi; suốt năm 1938, 39, 40, 41, 42, 43 đã giết hại vô số chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Dựa vào thế lực của giặc Pháp, Ngô Đình Khôi lại còn vơ vét tiền của quốc dân, đến lúc Nhật mạnh, lại mưu toan bán nước cho phát xít Nhật, ngấm ngầm phá hoại phong trào độc lập của Mặt trận Việt Minh.
  2. Phạm Quỳnh, một tay cộng sự rất đắc lực của giặc Pháp trong việc củng cố địa vị của Pháp ở Đông Dương, đã bao phen làm cho quốc dân phải điêu đứng. Phạm Quỳnh đã giúp sức cho quân cướp nước làm mê muội dân chúng Việt Nam. Với cái nghề mãi quốc cầu vinh, Phạm Quỳnh đã từ một tên viết báo nhảy lên một địa vị cao nhất trong hàng quan lại Nam triều. Phạm Quỳnh lại còn dựa vào thế lực Pháp và địa vị của mình bóc lột, vơ vét tài sản của quốc dân. Mặc dầu chính quyền của giặc Pháp đã bị truất sau ngày đảo chính 9-3-1945, nhiều triệu chứng tỏ rằng Phạm Quỳnh chỉ chờ cơ hội rước bọn thực dân Pháp đến làm cho diệt nước chúng ta.
  3. Ngô Đình Huân, một tay cộng sự hết sức lợi hại của phát xít Nhật mới đặt chân đến Đông Dương. Ngô Đình Huân đã giúp Nhật một cách có hiệu lực trong công cuộc quấy rối nước ta và cản trở phong trào độc lập của quốc dân Việt Nam.

Cả ba tên Việt gian đại bợm đã bị bắt ngay trong giờ cướp chính quyền (2 giờ 23-8-1945) ở Thuận Hóa và đã bị Ủy ban Khởi nghĩa kết án tử hình và đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật.

Tài sản và vật dụng của ba tên ấy đều là kết quả của sự phản bội quốc gia, bóc lột dân chúng mà có, nên đều phải bị tịch thu và quốc hữu hóa.

Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương”.

*

Tôi thở phào nhẹ nhõm!

Thế là, vấn đề cái chết của Phạm Quỳnh đã được giải đáp rõ ràng!

Thế là sau 45 năm (1961 – 2006), trên biết bao đoạn đường quanh co và khúc khuỷu, nhờ bài giảng cách đây 56 năm của thày Ban và nhờ sự giúp đỡ bằng nhiều cách khác nhau của các vị Trần Huy Liệu, Mạc Phi, Phan Hàm cùng nhiều vị khác, tôi đã tìm ra chiếc chìa khóa của cái chết Phạm Quỳnh!

Tôi càng nhớ tới lời nhận xét sáng suốt của nhà cách mạng – nhà sử học Trần Huy Liệu trong buổi tiếp tôi tại Hà Nội năm 1966:

Cái chết của Phạm Quỳnh là hậu quả tất yếu của chủ nghĩa tả khuynh ở một địa phương cụ thể, chủ nghĩa tả khuynh ở địa phương này (và một số không ít địa phương khác) lạc lõng trong toàn bộ cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 đại đoàn kết toàn dân và cơ bản không đổ máu do Hồ Chí Minh, nhà cách mạng giải phóng dân tộc triệt để – nhà nhân văn chủ nghĩa triệt để, làm Tổng tư lệnh cao nhất.

Thở phào nhẹ nhõm vì công việc nghiên cứu của mình đã đi đến kết quả nhưng trái tim tôi cũng rung lên một phím đau buồn.

Tôi tưởng như và tin rằng vào giờ phút sắp bị xử bắn, trước mắt Phạm Quỳnh thấp thoáng hiện lên hình ảnh cha mẹ, vợ con ông, hình ảnh Hồ Hoàn Kiếm, hình ảnh sông Hương “nước trong như vắt, dòng phẳng như tờ, ít khi có chút gợn sóng” và nhất là hình ảnh Truyện Kiều, Truyện Kiều, Truyện Kiều thân thương với những dòng lục bát đã hòa vào tâm hồn ông và tâm hồn toàn thể dân tộc:

Tâm thành đã thấu đến trời,

Bán mình là hiếu, cứu người là nhân.

Một niềm vì nước vì dân

Âm công cất một đồng cân đã già

Đoạn trường sổ rút tên ra,

Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau!

Nhật Hoa Khanh _ Xưa và Nay

___________________

Đọc thêm:

Phạm Quỳnh: Yêu nước trước hết là yêu tiếng mẹ đẻ

Năm 1917, tạp chí Nam Phong đăng bài Văn Quốc ngữ và một số bài liên quan của nhà báo Phạm Quỳnh hai mươi nhăm tuổi. Một trăm năm sau, khi đọc lại mấy bài ấy người ta lại một lần nữa thấy tác giả thực là yêu nước và uyên bác.

Những người tinh hoa phát tiết sớm như Phạm Quỳnh rất hiếm.[1] Suốt 15 năm (1917-1932) làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong, ông đã dùng tờ báo này trình bày quan điểm của mình trên lĩnh vực văn hóa-xã hội. Cho dù quan điểm chính trị của ông có thể không phù hợp với phong trào giải phóng dân tộc đương thời, nhưng rõ ràng ông là một nhà trí thức yêu nước đã hiến dâng cả đời mình cho sự nghiệp cao quý Dùng tiếng Việt và chữ Quốc ngữ để xây dựng nền Quốc học của nước nhà.

Có điều Phạm Quỳnh chủ yếu thể hiện tình yêu nước theo cách lo gìn giữ, tôn vinh tiếng nói của dân tộc, lo gây dựng nền học thuật riêng cho nước nhà. Tiếc thay, vì người cùng thời không hiểu được ông nên rốt cuộc ông phải hứng chịu một kết cục cay đắng. Nhưng chắc chắn lịch sử cuối cùng sẽ đánh giá đúng về ông, và có lẽ đã đến lúc nên đánh giá lại nhân vật này.

Phát triển quốc ngữ, xây dựng nền quốc học Việt Nam

Quốc học là nền văn hóa và học thuật truyền thống của một quốc gia-dân tộc, được xây dựng trên nền tảng quốc văn, tức nền văn học của quốc gia. Một nước văn hiến mấy nghìn năm như Việt Nam đã có nền Quốc học của mình hay chưa?

Phạm Quỳnh là người đầu tiên nhận thấy nước ta cho tới đầu thế kỷ XX vẫn chưa có quốc văn, do đó chưa có nền Quốc học của mình, và vì thế đất nước chưa thể phát triển. Ông day dứt đặt câu hỏi: Một nước muốn mưu sự sinh tồn, tìm đường phát đạt, có thể đời đời học mướn viết nhờ mãi được không?[2] Dù chưa nói thẳng ra nhưng hiển nhiên ông trả lời không, và vạch ra vì sao ta chưa có quốc văn, quốc học: Đó là do người Việt xưa nay đều học và dùng học thuật của người Hán cũng như viết bằng chữ mượn của họ.

Dân tộc ta thời xưa không có chữ viết nên phải dùng chữ Hán suốt hai nghìn năm, chữ Nôm chỉ dùng trong thời gian ngắn. Phạm Quỳnh nhận xét: Không một nước châu Âu nào trong hai nghìn năm chỉ chuyên học chữ Hy Lạp hay chữ La Mã như nước ta chuyên học chữ Hán… Hán văn tự nhiên trở thành quốc văn của nước ta, còn “Nôm” là lời tục trong dân gian, của những kẻ không biết “chữ”. Tình trạng học mướn viết nhờ ấy đã kìm hãm bước tiến của dân tộc ta.

Học giả-chí sĩ cách mạng Ngô Đức Kế (1878-1929) cũng nói: Nước Việt Nam ta mấy nghìn năm nay học chữ Hán, theo đạo Khổng. Hán văn tức là quốc văn, Khổng học tức là Quốc học.[3]Nghĩa là nền học thuật của nước ta không có hệ tư tưởng, phải theo tư tưởng Nho học của Quốc học Trung Quốc (TQ). Toàn bộ thể chế chính trị, văn hóa-xã hội nước ta, nội dung học tập và quy chế thi cử của nền giáo dục nước ta đều bắt chước TQ.

Người TQ từng nói: vì chữ Hán khó học nên hầu hết dân TQ mù chữ, ngu dốt, đất nước lạc hậu hèn yếu. Ta dùng chữ Hán tất nhiên cũng phải hứng chịu các di hại ấy.  Đặc biệt mặt tiêu cực của Khổng học (tức Nho giáo) đã kìm hãm sự phát triển của xã hội Việt Nam. Năm 1908, nhà ngôn ngữ học TQ Tiền Huyền Đồng nói Muốn phế bỏ Khổng học, không thể không trước tiên phế bỏ chữ Hán. Ngay từ năm 1907, Phan Châu Trinh kêu gọi Không bỏ chữ Hán thì không cứu được nước Nam! Năm 1936 Lỗ Tấn trăng trối Không diệt chữ Hán thì TQ sẽ mất nước!

Nền văn học Việt Nam viết bằng chữ Hán là Hán văn, không phải Việt văn, dập khuôn văn học Trung Hoa, không thể phản ảnh ngôn ngữ mẹ đẻ của dân ta, là thứ văn bác học của tầng lớp thượng lưu, người dân chỉ hiểu qua bản dịch. Cho nên nền văn học ấy tuy là một bộ phận của quốc văn nhưng không làm nên nền học thuật truyền thống của nước ta. Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Trương Chính… không coi là văn học dân tộc ta.[4] Vì thế nền học thuật chữ Hán này tuy có góp phần xây dựng nền văn minh Việt nhưng không thể gọi là Quốc học của nước ta.

Tất cả là do chữ Hán không ghi âm được tiếng Việt, cho nên văn học chữ Hán bế tắc không phản ánh đời sống đông đảo dân ta! Song không phải ai cũng hiểu ra lẽ đơn giản ấy. Chữ Hán chủ yếu ghi ý, không ghi âm. Việt Nam, Nhật, bán đảo Triều Tiên đều mượn dùng chữ Hán, văn học chữ Hán của ba dân tộc này đều bế tắc, cuối cùng đều phải tìm lối thoát bằng việc sáng tạo ra loại chữ ghi âm tiếng mẹ đẻ của mình: chữ Nôm ở Việt Nam, chữ Kana ở Nhật, chữ Hangul ở Triều Tiên.

Chữ Nôm xuất hiện đã dẫn đến sự ra đời một nền văn học dân tộc rực rỡ với đại diện ưu tú là Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương,… Nhưng do chữ Nôm chưa hoàn thiện và thời gian dùng làm chữ viết chính thức quá ngắn, lại quá ít người biết dùng, vì thế văn học chữ Nôm vẫn chưa trở thành quốc văn của nước ta.

Về sau, các nhà truyền giáo Ki Tô đã sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, món quà vô giá của văn minh phương Tây tặng dân tộc ta, hơn hẳn chữ Hán và chữ Nôm ở chỗ ghi được toàn bộ ngữ âm tiếng Việt, lại dễ học dễ viết, có thể phổ cập toàn dân. Phạm Quỳnh đánh giá rất đúng đây là công cụ kỳ diệu để giải phóng trí tuệ,[5] và ông dẫn đầu sự nghiệp dùng chữ Quốc ngữ để xây dựng nền Quốc học. Đúng là từ ngày có chữ Quốc ngữ, trí tuệ người Việt được giải phóng, mở mang, văn học nghệ thuật, khoa học kỹ thuật… phát triển, chỉ sau khoảng trăm năm đã đạt được thành tựu hơn mấy nghìn năm trước.

Phạm Quỳnh nhận xét: Vấn đề quan trọng nhất ở ta ngày nay là vấn đề văn quốc ngữ. Vấn đề ấy có giải quyết được thì sự học mới có thể tấn tới, dân trí mới có thể mở mang, cuộc tiến hóa sau này mới có thể mong mỏi được. Đến ngày chữ Quốc ngữ dùng làm quốc văn được thì người nước Nam mới có thể thâu thái các khoa học mới mà gây thành một nền học [tức Quốc học]thích hợp với trình độ, với tính cách dân ta…  Nói rút lại, văn quốc ngữ có phát đạt thì nền quốc học mới gây dựng được, mối tư tưởng mới mở mang được, quốc dân ta không đến nỗi chung kiếp đi học mướn viết nhờ như từ xưa đến nay vậy.… Ta chẳng nên oán gì các cụ ta ngày xưa vì say đắm chữ Tàu nên lãng bỏ tiếng Nôm, để cho con cháu ngày nay khổ vì có nước mà không có văn, có người mà không có cách nói cho nhau nghe ngoài những câu nhật dụng thường đàm… Chữ Quốc ngữ chính là cái bè để cứu vớt bọn ta trong bể trầm luân vậy.

Ông kiến nghị:  Đời trước đã lầm, đời nay phải biết tránh vết xe cũ mà đừng đi… Các cụ đã sao lãng, bọn ta phải chăm chú… Trước ta không có ai làm văn bằng Nôm, ta không thể lấy người trước làm gương làm mẫu được…. Xin đồng bào ta chớ lãng bỏ, chớ khinh rẻ văn quốc ngữ. Tương lai nước nhà chính ở đó.

Người xưa sao lãng văn Nôm vì chữ Nôm chưa hoàn thiện lại khó học, phải biết chữ Hán mới học được chữ Nôm, trong khi tổ tiên ta giỏi Hán văn, như Khương Công Phụ đỗ Trạng nguyên ở cả Việt Nam và TQ, được phong làm Tể tướng nhà Đường TQ.

Trước Phạm Quỳnh, các sĩ phu phong trào Duy Tân (1904) và Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) đã nhận thấy vai trò quan trọng của chữ Quốc ngữ. “Bài ca khuyên học chữ Quốc ngữ ” của ĐKNT có câu Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước/ Phải đem ra tính trước dân ta/ Sách các nước, sách Chi-na (TQ)/ Chữ nào chữ ấy dịch ra tỏ tường.  ĐKNT đả phá “cựu học”, tức nền học thuật Nho học, chủ trương xây dựng nền học thuật mới dùng chữ Quốc ngữ và tiếp thu các giá trị tiên tiến của văn minh phương Tây. Nhưng hai phong trào cách mạng nói trên đều sớm bị thực dân Pháp bóp chết.

Phạm Quỳnh không chỉ đề cao chữ Quốc ngữ mà còn đặt mục tiêu phát triển tiếng Việt: phải sáng tạo dựng đặt ra, từ chữ dùng cho đến phép đặt câu. Đó là vì vốn từ ngữ tiếng Việt thời ấy rất nghèo, phải dùng từ Hán-Việt du nhập từ Nhật và TQ khi họ chuyển thành chữ Hán các khái niệm của văn minh phương Tây. Chính ông cũng còn dùng kiểu hành văn cũ và nhiều từ cổ như bất nhược (chẳng như), mang nhiên (không biết gì)…

Ông kịch liệt phản đối việc dùng tiếng Pháp thay cho tiếng ta trong giảng dạy và trong đời sống và cho rằng sự “đổi não” [tư duy bằng ngoại ngữ] ấy theo lẽ tự nhiên là không thể nào thành công. Mà dù có làm được đi nữa cũng chẳng nên làm.

Khi diễn thuyết tại Viện Hàn lâm Pháp ở Paris (1922), ông đã phê bình việc chính quyền Pháp buộc các trường Pháp-Việt ở ta học tiếng Pháp từ bậc tiểu học mà không học tiếng Việt: Nếu dân Việt Nam là một dân tộc chưa có lịch sử thì quý quốc cứ việc dạy cho học chữ Tây hết cả… Nhưng dân Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng muốn vẽ gì cũng được, mà là một tập giấy đã có chữ sẵn từ đời nào đến giờ rồi, nếu bây giờ viết đè một thứ chữ mới lên trên thì e thành giấy lộn mất… Bây giờ dạy khắp chữ Tây cho dân chúng tôi từ nhỏ đến lớn như ở các trường Pháp-Việt hiện nay, kết quả chỉ làm cho người Việt Nam mất giống Việt Nam

Đứng giữa thủ đô Paris tố cáo chính quyền Pháp mưu toan đồng hóa dân tộc ta cho tới mất giống Việt Nam – điều đó chứng tỏ Phạm Quỳnh là một nhà yêu nước ở tầm cao tri thức hiếm thấy. Không chỉ nói, mà sau khi nhậm chức Thượng thư Bộ Học ở triều đình Huế (1932), ông đã đòi được từ chính quyền Pháp quyền quản trị bậc tiểu học rồi chính ông ban hành lệnh dạy chữ Quốc ngữ ở bậc tiểu học trong cả nước.

Phạm Quỳnh cũng dẫn đầu phong trào viết văn Quốc ngữ, hồi đó còn rất ít người tham gia. GS Dương Quảng Hàm đánh giá các bài viết của ông đã luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới.[6] Như vậy ông đã đóng vai trò một nhà khai sáng của nước ta.

Yêu quý và độc tôn tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ của dân tộc ta

Phạm Quỳnh tự nhận Tôi đây chính là một người nhiệt thành thương tiếng nước nhà, lâu nay đã tự nguyện cúc cung tận tụy một đời để gây dựng cho tiếng ấy thành văn chương, cho nước ta có một nền quốc văn đứng riêng được một cõi, cho người mình khỏi phải cái cực chung thân cùng kiếp đi học mướn viết thuê.

Ngày nay được đọc được ngâm những mảnh thơ Nôm, văn Nôm của các bậc tiền bối còn sót lại đến giờ, trong lòng có cái cảm vô hạn. Tưởng như hồn xưa của đất Việt ta còn phảng phất đâu ở trong mảnh thơ tàn văn vụn ấy mà vẳng đưa đến tai ta những giọng vui sầu của người thủa trước. Cùng một tiếng khóc, cùng một giọng cười mà sao giọng cười tiếng khóc bằng cái lời họ Hàn [Hàn Thuyên, ông tổ chữ Nôm] kia, nó cảm ta như thế? Là bởi trời sanh ta để nói cái tiếng ấy, trời sanh ra cái tiếng để ta nói, ta có nói bằng tiếng ấy mới nói được lòng ta, nói bằng tiếng khác là nói những chuyện không đâu cả. Trong trời đất chỉ có tiếng nói ấy với ta, ta với tiếng nói ấy, là sẵn có duyên nợ với nhau vậy.

Đó là tiếng mẹ đẻ của người Việt, gắn chặt với vận mệnh dân tộc ta, được Phạm Quỳnh tôn vinh, coi là hồn của đất nước. Với suy nghĩ ấy, ông dâng cả cuộc đời mình cho sự nghiệp gìn giữ và độc tôn tiếng Việt trong tình hình văn hóa phương Tây ồ ạt tràn vào, nền học thuật cũ dựa trên Hán học đang bị loại bỏ, chữ Quốc ngữ vẫn còn bị coi khinh.

Tuy rất giỏi chữ Hán và tiếng Pháp nhưng Phạm Quỳnh chủ trương Quốc văn một nước phải dùng tiếng gốc của dân nước ấy, không thể dùng chữ Hán hoặc tiếng Pháp làm văn nước Nam.Ông sáng suốt hiểu rằng Tiếng nói là phần cốt yếu làm thành ra một dân một nước. Cho nên xưa nay nước nào dân nào cũng có một thứ tiếng riêng ; có dân có nước bờ cõi đã mất, quốc thể không còn mà còn giữ được quốc âm cũng không đến nỗi tiêu diệt đi được.

Đúng vậy, ngôn ngữ quyết định sự hình thành và tồn tại của một dân tộc, là tiêu chí chủ yếu để phân biệt các dân tộc. Một dân tộc để mất tiếng mẹ đẻ thì có nguy cơ bị tiêu diệt theo nghĩa bị đồng hóa, tan biến vào một nền văn hóa khác. Nếu giữ được tiếng mẹ đẻ thì dù nước bị mất nhưng dân tộc vẫn không bị tiêu diệt. Người Do Thái mất nước, 2000 năm phiêu bạt khắp nơi nhưng nhờ giữ được tiếng Hebrew nên dân tộc này vẫn tồn tại, cuối cùng lập nên quốc gia Israel hùng mạnh.

Phạm Quỳnh rất quan tâm chữ Nho, tức chữ Hán đã Việt hóa thành từ Hán-Việt, và đưa ra quan điểm nên dùng từ Hán-Việt cho các từ ngữ có tính học thuật. Ông nêu ví dụ: Nếu nói “Nhà vua Việt Nam đi chơi Bắc Kỳ, nay đã về Kinh rồi ” thì nghe sống sượng quá, không trang trọng bằng nói “Hoàng thượng ngự giá Bắc Kỳ, nay đã hồi loan ”. Những từ Hán-Việt ngự giá, hồi loannày thời ấy quen dùng nhưng ngày nay hầu như đã biến mất.

Ông nói ta phải học và dùng chữ Nho, nhưng Xưa học chữ Nho là vì chữ Nho, nay học chữ Nho là vì quốc văn ; mục đích đã khác thì phương pháp cũng khác xưa học trăm phần nay chỉ học một phần thôi, nhưng là cái phần rất cần nhằm để đọc hiểu thơ văn người xưa, chứ không phải học để mà viết văn làm thơ bằng chữ Nho.

Dĩ nhiên quan điểm trên chỉ hợp với tình hình 100 năm trước, khi tiếng Việt còn quá thiếu từ ngữ. Ngày nay người Việt tự tạo ra nhiều từ ngữ mới, nhiều từ Hán-Việt nhập tịch biến thành từ Việt, tiếng Việt có thể diễn đạt mọi khái niệm mà không cần dùng chữ Hán (Nhật và Hàn Quốc vẫn cần). Bởi vậy ngày nay người Việt không cần học chữ Hán ở bậc phổ thông. Riêng sinh viên khoa học xã hội-nhân văn thì cần học chữ Nho để đọc hiểu thư tịch tổ tiên để lại.

Tình yêu tiếng Việt của Phạm Quỳnh thể hiện rõ khi ông ra sức đề cao giá trị văn chương của Truyện Kiều, bất chấp bị giới học giả yêu nước đả kích: Truyện Kiều quả là một nền văn chương tuyệt bút, có lẽ văn Tàu cũng không có gì bằng… có thể sánh với những sách thật hay trong văn chương các nước khác… Suốt truyện không một câu nào đặt non đặt ép… lời văn luyện cho đến nỗi tưởng không ai có tài nào đặt hơn được nữa… Nhiều câu trong truyện đã trở thành lời cách ngôn thiên cổ.

Thời ấy một số học giả yêu nước còn nặng tư tưởng lễ giáo cũ coi Truyện Kiều là “dâm thư ”, coi việc Phạm Quỳnh suy tôn Truyện Kiều là thủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp nhằm làm thanh niên ta bị mê hoặc mà sao lãng nhiệm vụ cứu nước. Thực ra Phạm Quỳnh đã đi trước thời đại, đánh giá đúng tác phẩm này. Điều đó chứng tỏ ông rất mực uyên bác và yêu nước.

Trong lễ kỷ niệm ngày sinh Nguyễn Du năm 1924, ông trịnh trọng thề: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn ; tiếng ta còn, nước ta còn! Nói cách khác, Phạm Quỳnh thề gìn giữ Tổ quốc ta trường tồn trên lĩnh vực ngôn ngữ.

Tiếng ta còn, nước ta còn! – chân lý bất hủ ấy đã được người Việt Nam chứng minh một cách hùng hồn nhất. Suốt nghìn năm Bắc thuộc, nước ta bị biến thành một quận của Trung Hoa, tổ tiên ta buộc phải dùng chữ Hán, nhưng nhờ giữ được nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ mà dân tộc ta không bị đồng hóa, tổ quốc ta vẫn tồn tại tới nay. Thượng Chi Phạm Quỳnh đi đầu thấu hiểu và suốt đời phấn đấu thực hiện chân lý nói trên. Ông thực sự là một học giả yêu nước và uyên bác hiếm có của dân tộc ta.

Nguyễn Hải Hoành _ Nghiên Cứu Quốc Tế

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.

Bài viết được đăng lần đầu trên tạp chí Văn hóa Nghệ An.

Có thể bạn sẽ thích

Bình Luận

Your email address will not be published.