Trang Chủ / VĂN THƠ-KIẾN THỨC-THƯ GIÃN / Tiếng Khóc Trong Rừng

Tiếng Khóc Trong Rừng

Tiếng Khóc Trong Rừng

Cha Cassaigne được thụ Phong chức Linh Mục năm 1925 tại chủng viện Rue du
Bac của Paris. Qua Sài Gòn ngay sau đó và nhận nhiệm sở thí điểm truyền giáo
vùng ma thiêng nước độc Di Linh

31/8/2017

Bên cạnh Làng Cùi Di-Linh, tỉnh Lâm Ðồng, có ngôi mộ của
Ðức Giám Mục Jean Cassaigne (Gioan Sanh,) vị sáng lập giáo
xứ và làng cùi tại Di-Linh. Trên bia mộ Ðức Giám Mục De
Cassaigne, có khắc hai dòng chữ sau đây:

“Tôi xin những người nào, mà khi còn sống, tôi không giúp đỡ được
gì, hãy tha lỗi cho tôi”
“Tôi xin những người nào, mà khi còn sống, tôi đã nêu gương xấu,
hãy tha lỗi cho tôi”

Ngay sau khi Ðức Cha Jean Cassaigne tấn phong Cha Simon
Hòa Hiền (cựu Giám Mục Ðịa Phận Ðàlạt) năm 1955, thay vì về
lại Pháp là nơi Ðức Cha Cassainge đã lớn lên, Ngài đã trở lại để
vui sống với anh em bệnh nhân trại cùi, một làng nhỏ chính tay
Ngài tạo dựng mấy mươi năm về trước. Tại làng nhỏ bé này,
Ngài vừa làm Cha sở, Thầy giảng, Giám đốc, Y tá, chăm nom
chu đáo cho tất cả bệnh nhân mọi tôn giáo, trẻ già, với sự cộng
tác nhiệt thành của các sơ dòng Bác Ái Vinh Sơn. Ngài quyết
tâm sống chết với con cái cùi hủi của Ngàị
Trong cuốn “Lạc Quan Trên Miền Thượng” [1] do Linh Mục Giuse Phùng
Thanh Quang viết vội vào năm 1972 về cuộc đời hy sinh cho người cùi của
Ðức Cha Cassaigne, lúc Ðức Cha Cassaigne đang đau quằn quại thê thảm với
những cơn đau khủng khiếp cuối đời. Một đời hy sinh thật cao quý của Ðức
Cha Cassaigne mà có lẽ nay còn rất ít người có biết và nhớ đến.

Cha Cassaigne được thụ Phong chức Linh Mục năm 1925 tại chủng viện Rue
du Bac của Paris. Qua Sài Gòn ngay sau đó và nhận nhiệm sở thí điểm truyền
giáo vùng ma thiêng nước độc Di Linh (DJIRING) năm 1927. Ngài đã yêu
thương những người “Mọi cùi” đến độ đã sống giữa người cùi, tắm rửa, săn
sóc cho những người cùi, đã thương yêu họ cho đến khi họ chết. Cha
Cassaigne đã kể một câu chuyện có lần Ngài giúp những người cùi thức ăn
gồm có gạo, muối, và thịt naị Có một bà cùi hàng tuần đến lấy phần ăn,
nhưng tuần đó không thấy đến. Cha Cassaigne đến lều tranh tìm bà thì thấy
bà ta sắp chết với mủ nhớt nhầy nhụa, mùi hôi thối không chịu được xông ra
từ mảnh thân héo tàn đáng thương xót nàỵ Cha vội lo dạy bà những điều về
Thiên Chúa và hỏi bà ta có muốn Cha rửa sạch những tội lỗi để bà được lên
Trời sau khi chết không? Người cùi đáng thương đồng ý được rửa tội và nói
với Cha Cassaigne rằng:
“Cau dờng! Ăn rơp kăh dơ mê dỡ ăn gũh rê hơ trồ”
” Ông lớn ơi! Tui sẽ nhớ đến ông khi tôi ở trên Trời”

Cái chết tội nghiệp nhưng tốt lành của bà Thượng cùi đã làm khích động thật
sâu xa tâm hồn Tông Ðồ của vị Linh Mục Thừa Saị Câu nói “Tôi sẽ nhớ Cha
khi được ở trên Trời” là viên đá đầu tiên được đặt xuống để khởi đầu công
cuộc thành lập làng cùi tại Di Linh.
Trong khoảng thời gian đó, ở miền Trung cũng như ở miền Nam nước Việt
cũng có những trại cùi với số người bệnh tương đối ít. Trong khi ở vùng đất
xa xôi có đến hàng trăm người cùi, lại không có chỗ cho họ ở. Theo lời Linh
Mục Phùng Thanh Quang kể lại.
Một ngày cuối Thu năm 1928, trong chuyến đi thăm một làng Thượng xa,
đang băng qua rừng vắng thì bỗng có tiếng chân nhiều người dồn dập từ
trong vùng tối âm u, nhiều giọng la ú ớ kêu Ngài dừng lại. Những bóng dáng
quái dị xuất hiện như một đoàn ma đói. Thân hình xác xơ, kẻ mất tay, người
sức mũi, miệng chảy nước lòng thòng và tất cả hầu như què quặt. Họ mặc dù

có người khập khiểng, có người vừa bò vừa lết, và đói, cố đuổi theo Cha bao
vây lấy Ngài và tất cả đồng gào lên thảm thiết:
“Ơ cau dơng! Ơ cau dơng! Dăn nđàc sơngit bol hi!”
Ới ông lớn! Ới ông lớn! Xin thương xót chúng tôi!

Rồi tất cả sụp lạy Ngài và khóc rống. Cha Cassaingne vừa sợ hãi, vừa mủi
lòng. Thì ra đây là nhóm người cùi bị xóm làng kinh tởm đuổi đi, họ tụ tập
từng nhóm ngoài rừng xa, sống lây lất qua ngày để chờ chết. Có lẽ họ đã
nghe lời đồn đãi về ông lớn làm thuốc và hay thương giúp người cùi này. Họ
chờ Cha trên khúc đường vắng để nhờ Cha giúp đỡ. Vài ngày sau, đó, việc
lập làng cùi Di Linh được xúc tiến ngay [3] Trong bài thuyết trình của Cha
Cassaigne tại Sài Gòn năm 1943 về bệnh cùi khủng khiếp như thế nào, Ngài
viết:

đức cha và người cùi

“Ở xứ Thượng cũng như hầu hết các xứ vùng nhiệt đới, nơi mà sự ăn ở sạch
sẽ và phương pháp vệ sinh ít được lưu ý, thì con số người mắc bệnh cùi khá
cao. Khi mà có thể còn làm việc được thì người mắc bệnh cùi vẫn còn được
sống chung với gia đình. Nhưng đến khi thân tàn ma dại không làm gì được
nữa, nhất là khi các vết ung thối bắt đầu phá miệng lở loét ra, mủ máu vấy
đầy khiến những người chung quanh nhờm gớm kinh tởm không chịu được,
thì dân làng đưa họ vào rừng, cất cho họ một túp lều tranh để người cùi ở lại
đó một mình sống chết sao mặc kệ! Rồi yếu liệt cô đơn trong túp lều hiu
quạnh, người cùi không còn sức làm gì nữa để kiếm ăn vì tay chân cụt mất
rồi! Họ sẽ chết dần chết mòn một cách thảm khốc, sẽ gục ngã ở một xó kẹt
nào đó rồi chết đi vì đói lạnh, mà chẵng có ai hay biết…”

Trước khi mắc bệnh, mỗi lần thuyết trình đến đây, cha Cassaigne không sao
cầm được nước mắt, phần thì thấy thương những người xấu số, phần thì chắc
Ngài cảm thấy lo âu sợ sệt như linh cảm thấy trước định mệnh sẽ đến, Ngài
run sợ như chính mình đang mắc chứng bệnh nan y nàỵ
Các việc làm nhân đức của Cha Jean Cassaigne đã đưa Ngài từ một căn lều
tranh để phục vụ người hủi tới tận tai Tòa Thánh La Mã. Ngài được bổ nhiệm
chức Giám Mục và Ngài phải tuân lệnh Toà Thánh về làm việc tại Ðiạ Phận

Sài Gòn. Trong hơn 14 năm giữ chức vụ này Ðức Giám Mục Cassaigne đã
đôn đốc thực hiện công cuộc bác ái, cứu trợ vật chất, ủy lạo tinh thần cho
những người gặp cảnh bất trắc nghèo khó, di cư tị nạn, không phân biệt địa
phương hay tôn giáọ Vì nhớ đám dân cùi, Ngài xin từ nhiệm chức Giám Mục
Sài Gòn để trở về băng bó vết thương tinh thần và vật chất cho những đứa
con cùi hủi của Ngài tại làng cùi Di Linh.

Vì sống một đời sống quá khắc khổ trong rừng nên Ðức Cha đã mang nhiều
bịnh nặng. Từ năm 1929, Ngài đã mắc bịnh sốt rét rừng. Năm 1943, bịnh cùi
đã đến với Ngài vì sống gần gũi với người bịnh; từ năm 1957, bịnh lao xương
làm không thuốc chữa Ngài đau đớn, và năm 1964, bịnh lao phổi trở lại hành
ha thân Ngàị Ðức Cha đau đớn tột cùng với những cực hình thể xác, nhưng
luôn luôn vững lòng chấp nhận để xin Chúa thương mà giảm bớt cái đau của
những người hủi tại Việt Nam. Những ai may mắn sống gần Ðức Cha thường
được nghe Người nói:

– “Ðời tôi chỉ có ba ước nguyện: được chịu đựng, chịu đau, và chịu chết ở
đây, giữa những người Thượng của tôi”
(Je ne demande que trios choses: tenir, souffrir, et mourir ici, au milieu de
mes Montagnards).

Chúa đã nhận lời cầu xin của Ðức Cha, đã cho Ngài mang lấy bốn chứng
bệnh nan y. Ðã giúp sức cho Ngài chịu đựng quá lâu dài. Những ngày cuối
cùng tuy đau đớn, nhưng Người vẫn đọc kinh cầu nguyện cho nước Việt
Nam, cho các người cùi. Người nói:
Suốt 47 năm dài, Cha đã sống giữa các con, đã sống tại Việt Nam này, và
đã dâng hiến tất cả cho các con. Giờ đây, Cha không tiếc một điều gì về sự
dâng hiến toàn diện ấy”.
Theo lời từ biệt của ông Nguyễn Thạch Vân, đọc trong lễ an táng Ðức Cha
Cassaigne tại Di Linh ngày 11 tháng 5, năm 1973 kể lại, Cha Cassaigne còn
nói:
Việt Nam chính là quê hương của Cha, bởi vì Chúa muốn như vậy”.

Khi nói đến câu: “Nước Việt Nam là quê hương của tôi”. Ðức Cha chấp tay
như để cầu nguyện, và Ngài khóc! Ðây là giòng lệ Thánh cầu nguyện của một
Tông đồ Truyền giáo, đã tận hiến đời mình cho lớp người khốn khổ, bất hạnh
nhất trên cõi đời này.
Năm 1972, Ðức Cha đã được trao tặng Ðệ Tứ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương
trên giường bệnh và đã qua đời tại Di-Linh ngày 31-10-1973.

Trích: Tiếng Khóc Trong Rừng
Trần Bá Lộc & Nguyễn Thị Lân
_http://www.huongvetaynguyen. org

Xem tiếp

cô dâu Việt

Thân phận dâu Việt ‘mười ba bến nước’ xứ người

Phận dâu Việt ‘mười ba bến nước’ xứ người 21/10/2017 Hàng chục nghìn cô gái ...

Bình Luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *