Báo hay cho người bận rộn

TS Trần Đức Anh Sơn làm gì mà bị cảnh cáo?

2

Viết sai sự thật trên mạng, ông Trần Đức Anh Sơn bị cảnh cáo

Ông Trần Đức Anh Sơn có vi phạm trong việc viết và đăng tin bài trên mạng xã hội có nội dung sai sự thật, bịa đặt, không đúng với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Tại kỳ họp thứ 20 vừa kết thúc, UB Kiểm tra Thành ủy Đà Nẵng đã xem xét, thi hành kỷ luật bà Trần Thị Kim Oanh, Phó trưởng Ban Nội chính Thành ủy; ông Trần Huy Đức, Bí thư Đảng ủy, Chánh Thanh tra TP; bà Lê Thị Thu Hạnh, Bí thư Đảng ủy, PGĐ Sở Ngoại vụ; ông Trần Văn Chung, Bí thư Chi bộ, Trưởng Phòng An ninh kinh tế, Công an TP.

UB Kiểm tra Thành ủy đã xem xét khuyết điểm, vi phạm của các cá nhân trên trong việc tham gia ký tên tập thể vào văn bản có nội dung tố cáo, vi phạm Quy định số 47-QĐ/TW ngày 01/11/2011 của Ban chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; sử dụng con dấu của cơ quan, đơn vị không đúng với quy định hiện hành.

Viết sai sự thật trên mạng, ông Trần Đức Anh Sơn bị cảnh cáo - Ảnh 1

Ông Trần Đức Anh Sơn

UB Kiểm tra Thành ủy Đà Nẵng quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với các cán bộ nói trên.

Ngoài ra, UB Kiểm tra Thành ủy cũng đã xem xét, thi hành kỷ luật đối với ông Trần Đức Anh Sơn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Đà Nẵng.

Ông Sơn được xác định có vi phạm trong việc viết và đăng tin bài trên mạng xã hội có nội dung sai sự thật, bịa đặt, không đúng với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Ông Sơn nhận hình thức kỷ luật cảnh cáo.

VietnamNet

______________________

Đọc thêm:

TS. Trần Đức Anh Sơn làm gì mà bị cảnh cáo?
           Trần Đức Anh Sơn: “Cần quảng bá rộng rãi hơn các chứng cứ về chủ quyền biển đảo” (*)

             (*) Bài viết của TS. Trần Đức Anh Sơn đăng ngày 30/07/2016 trên báo Đồng Nai.

Chống Tàu là vi phạm điều lệ Đảng!

* Quảng bá chứng cứ của ta còn yếu

Chính thức sưu tầm tất cả tư liệu liên quan đến chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 2009, song thực tế từ trước đó khá lâu, ông đã tập trung vào chủ đề này khi nghiên cứu về văn hóa biển Việt Nam: văn hóa, tập tục, tín ngưỡng, không gian kinh tế… đều có những cứ liệu liên quan đến 2 quần đảo quan trọng này.

Được xem là một trong những học giả có các tư liệu và nghiên cứu đáng giá nhất về Hoàng Sa – Trường Sa, TS. Trần Đức Anh Sơn đã có khoảng 10 năm tập trung nghiên cứu về chủ đề này với rất nhiều nguồn tư liệu, chứng cứ trong và ngoài nước. Từ nguồn tư liệu của ông và đồng sự, hàng chục cuộc triển lãm, thông tin về chủ quyền Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã được tổ chức trong và ngoài nước.

TS.Sơn từng làm việc tại Huế trong lĩnh vực khảo cổ học và bảo tàng. Năm 2009, ông chuyển về làm việc tại Đà Nẵng và được giao chủ nhiệm đề tài nghiên cứu “Fond tư liệu về chủ quyền Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa, TP.Đà Nẵng”.

 Khi thực hiện các công trình nghiên cứu về Hoàng Sa – Trường Sa, ông tiếp cận nguồn tư liệu và chứng cứ nào là chính, trong nước hay ngoài nước?

– Một số nhà nghiên cứu chỉ chuyên sâu nghiên cứu các tài liệu trong các kho lưu trữ trong nước hoặc trên mạng internet. Song tôi có chút may mắn hơn là được đi nước ngoài nhiều nên có nhiều kinh nghiệm sưu tầm tư liệu ở nước ngoài. Theo tôi, việc sưu tầm tư liệu trong nước có nhiều khó khăn: khó tìm do khâu bảo quản tư liệu yếu; ở một số nơi thủ tục khá rườm rà khi muốn tiếp cận tư liệu… Vì vậy tôi tìm tư liệu ở Nhật Bản, Hoa Kỳ, châu Âu… và tổ chức được một cuộc triển lãm vào năm 2013 tại Đà Nẵng với tên “Những bằng chứng lịch sử và pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Hiện tại, tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu và thu thập tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này. Đặc biệt, từ tháng 9-2015 đến 6-2016, nhờ học bổng của Chương trình học giả Fulbright (do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cấp), tôi có cơ hội nghiên cứu tiếp đề tài chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa tại các thư viện lớn ở Hoa Kỳ, như: Thư viện Đại học Yale, Thư viện Đại học Harvard, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ… Ngoài ra, tôi còn tìm kiếm tư liệu từ các thư viện khác ở Hoa Kỳ và các nước khác thông qua mạng internet cũng như sưu tập thêm nhiều tư liệu quý để bổ túc cho quá trình nghiên cứu của mình về chủ đề này.

 Có quá khó khăn khi tiếp cận các nguồn tư liệu quốc tế về chủ đề này không, thưa ông?

– Thực tế là tiếp cận các nguồn tư liệu quốc tế lại dễ dàng hơn so với tiếp cận một số nguồn tư liệu trong nước. Thứ nhất là do họ lưu trữ tốt hơn, quản lý bằng mạng internet, nhiều tư liệu đã được số hóa và lập thư mục đầy đủ nên rất thuận tiện trong việc tiếp cận và khai thác. Nhưng quan trọng nhất là họ luôn hỗ trợ độc giả tiếp cận và sử dụng kho tư liệu mà họ có. Các thư viện, văn khố ở các nước: Hoa Kỳ, Bồ Đào Nha, Đức, Hà Lan, Pháp, Bỉ, Nhật… chúng tôi đều tiếp cận dễ dàng và được hỗ trợ rất nhiệt tình.

Trong khi đó, việc tìm kiếm tư liệu trong nước thì lại gặp nhiều khó khăn bởi việc quản lý, lưu trữ yếu; hệ thống hạ tầng thông tin để tra cứu kém và đôi khi chúng tôi gặp phải thái độ e dè hoặc đối mặt với nhiều thủ tục phiền phức, rắc rối khi tiếp cận và khai thác tư liệu. Nhiều học giả khác cũng gặp tình trạng này như tôi khi cố gắng thu thập tư liệu từ các thư viện, kho lưu trữ ở Việt Nam. Tôi nghĩ các cơ quan hữu quan ở Việt Nam cần xem lại cách quản lý tư liệu hiện nay.

 Tất cả các tư liệu quốc tế có khẳng định gì về chủ quyền của các quần đảo này không, thưa ông?

– Bản thân tư liệu thường không tự thân khẳng định điều gì cả. Đó chỉ là những chứng cứ, còn việc sử dụng những chứng cứ đó để khẳng định chủ quyền của Việt Nam là công việc của những nhà nghiên cứu, những chuyên gia pháp lý và của Nhà nước Việt Nam.

Trong thời gian qua, phía Trung Quốc lại in rất nhiều sách vở khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa (họ gọi là Tây Sa – Nam Sa) là của họ, từ tư liệu lịch sử, pháp lý đến truyện tranh, thơ ca… và dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp rồi gửi tặng cho các thư viện trên thế giới để khẳng định 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của họ.

Trong khi đó, chúng ta lại rất hạn chế tuyên truyền, phổ biến tài liệu chứng mình Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam ở trên các diễn đàn quốc tế. Tôi đơn cử một việc: Thư viện Đại học Harvard mỗi năm nhập khoảng 30 ngàn đầu sách từ Trung Quốc đủ thể loại, trong khi chỉ có khoảng 1 ngàn đầu sách đến từ Việt Nam. Do đó, cô thủ thư kho sách tiếng Việt tại thư viện này đã nói với tôi một câu khá buồn là: “Trung Quốc không chỉ xâm lấn chúng ta ở trên đất liền và trên Biển Đông, họ còn xâm lấn chúng ta ở ngay cả trong thư viện này”.

* Không nên “bài Trung” một cách quá khích

 Suy nghĩ cá nhân ông về vấn đề giành lại chủ quyền của chúng ta trên 2 quần đảo, dưới góc độ một nhà nghiên cứu chủ đề này?

Khi nghiên cứu tại Đại học Yale (Hoa Kỳ) trong 10 tháng qua, tôi đã vận động tổ chức một hội thảo quốc tế “Xung đột ở Biển Đông” và đã mời các học giả quốc tế từ Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc, Canada, Philippines, Hoa Kỳ tham dự. Họ đều cho rằng Việt Nam có nhiều cứ liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, nhưng việc công bố những tư liệu này ra thế giới còn yếu quá. Quan sát của tôi là cho đến nay, việc công bố những tư liệu lại chủ yếu là do nỗ lực của các cá nhân, chứ chưa có một chương trình quốc gia nào cho vấn đề này, trong khi bản thân các học giả không đủ sức để làm việc này ở quy mô lớn hơn. Đây là một thiệt thòi lớn.

– “Cuộc chiến này” ngày càng khó khăn hơn. Ngay cả bây giờ khi Tòa Trọng tài thường trực của Liên hiệp Quốc đã ra phán quyết “đường lưỡi bò” của Trung Quốc là không có cơ sở pháp lý thì tình hình vẫn rất phức tạp. Ngoài ra, chúng ta cần có cái nhìn thực tế hơn trong phán quyết của vụ kiện này. Lợi thế lớn nhất ở chỗ tòa tuyên bố “đường lưỡi bò” do Trung Quốc đề xuất là vô giá trị, và không chỉ Philippines mà Việt Nam cũng được hưởng lợi từ phán quyết này: từ nay Trung Quốc không có quyền ra lệnh cấm đánh bắt cá phi lý ở trên Biển Đông nữa, cũng không có quyền tấn công ngư dân hay xua đuổi tàu bè. Trung Quốc cũng không có quyền bày vẽ ra các vụ “thăm dò” như vụ đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào trong vùng biển của Việt Nam như đã làm vào năm 2014. Những vụ việc kiểu đó sẽ bị quốc tế lên án.

Theo tôi về cơ bản phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực trong vụ Philippines kiện Trung Quốc vào ngày 12-7 vừa qua là một thắng lợi của công lý quốc tế, và Việt Nam “được nhiều hơn mất”.

Có khả năng Trung Quốc phớt lờ phán quyết này và “xem như không có gì xảy ra” không?

– Đương nhiên, Trung Quốc sẽ tỏ ra không quan tâm đến phán quyết này. Tuy nhiên, việc dùng luật pháp quốc tế để ra phán quyết ai đúng, ai sai được đánh giá là một “shamefare”, nghĩa là làm cho Trung Quốc xấu hổ, bị mất mặt. Qua đó buộc Trung Quốc phải thay đổi lối hành xử ngang ngược hiện nay để đối phó với sức ép của dư luận quốc tế. Các nước nhỏ sẽ bắt tay với nhau, dùng các thủ tục tố tụng để tố cáo Trung Quốc, hết nước này đến nước khác, lần này đến lần khác sẽ khiến Trung Quốc lúng túng đối phó. Cùng với áp lực từ dư luận quốc tế, tôi nghĩ lâu dần Trung Quốc sẽ thay đổi thái độ để giữ thể diện của mình và phát huy “sức mạnh mềm” như họ đang cố làm bấy lâu nay.

 Quan điểm của ông về việc một số nhà hàng, dịch vụ, khu du lịch Việt Nam từ chối khách Trung Quốc hoặc các hành vi quá khích?

– Thật sự tôi nghĩ chúng ta không có quyền từ chối phục vụ mà không có lý do cụ thể, vì Việt Nam đã chấp nhận cấp thị thực cho người Trung Quốc vào Việt Nam du lịch thì chúng ta phải đối xử với họ như những khách du lịch khác. Chúng ta chỉ có quyền xử phạt khi họ hành xử sai, như: gây rối trật tự công cộng, hành nghề không có giấy phép… Chúng ta có quyền từ chối không cho họ tham quan các di tích lịch sử khi họ có hành vi hướng dẫn xuyên tạc sai trái, thuyết minh sai, trả tiền bằng nhân dân tệ, ồn ào, không tuân thủ nội quy… Còn việc phân biệt đối xử hoặc kỳ thị mà không có lý do thì theo tôi là không đúng.

 Xin cảm ơn ông!

Huỳnh Ngọc Chênh Blog

__________________

Đọc thêm:

Người đi tìm bản đồ về chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông

27/11/2017

 Bản dịch từ bài:

A Defiant Map-Hunter Stakes Vietnam’s Claims in the South China Sea New York Times

Dịch thuật: Vũ Quốc Ngữ 

Các nhà lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam là “nô lệ” của Bắc Kinh, ông nói thêm một cách cay đắng, khi mưa xối xả đập vào cửa sổ của ông. “Đó là lý do tại sao chúng tôi có nhiều tài liệu không được công bố”.

Sứ mệnh của Tiến sĩ Sơn, và thái độ im lặng của Ban lãnh đạo [đảng và nhà nước] là dấu hiệu của các giai đoạn trong đó Việt Nam luôn sống dưới cái bóng của Trung Quốc nhưng muốn một sự độc lập nào đó.

Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn cho hay Chính phủ Việt Nam không sử dụng những tài liệu mà ông tìm ra để kiện Trung Quốc. “Do vậy, nhiều tài liệu của chúng tôi không được công bố”.

Đà Nẵng, Việt Nam – 8 năm trước, lãnh đạo Đà Nẵng đã yêu cầu Trần Đức Anh Sơn đi khắp thế giới để tìm kiếm các tài liệu và bản đồ hỗ trợ cho các tuyên bố lãnh thổ của Việt Nam ở Biển Đông.

clip_image002

Tiến sỹ Nguyễn Đức Anh Sơn với một tấm bản đồ VN với Biển Đông trong phòng làm việc của ông ở Đà Nẵng
Ông đã làm như yêu cầu, và ông kết luận rằng Việt Nam nên kiện Trung Quốc về các hoạt động trong vùng nước xung quanh một số hòn đảo đang tranh chấp  ở Biển Đông, như Philippines thành công khi kiện Trung Hoa lên Toà án Trọng tài Quốc tế kết thúc vào năm ngoái. Tuy nhiên, những lãnh đạo của ông đã im lặng.

“Họ luôn luôn nói với tôi rằng ‘Anh Sơn, hãy giữ bình tĩnh’”, ông nói trong một cuộc phỏng vấn tại nhà riêng ở Đà Nẵng, thành phố ven biển, nơi ông là Phó giám đốc một viện nghiên cứu của nhà nước. “Đừng nói xấu về Trung Quốc” là yêu cầu của lãnh đạo đối với ông.

Các nhà lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam là “nô lệ” của Bắc Kinh, ông nói thêm một cách cay đắng, khi mưa xối xả đập vào cửa sổ của ông. “Đó là lý do tại sao chúng tôi có nhiều tài liệu không được công bố”.

Sứ mệnh của Tiến sĩ Sơn, và thái độ im lặng của ban lãnh đạo là dấu hiệu của các giai đoạn trong đó Việt Nam luôn sống dưới cái bóng của Trung Quốc nhưng muốn một sự độc lập nào đó.

Sự hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông đã gây ra lo lắng cho Việt Nam, coi chủ quyền lãnh thổ là một nguyên tắc thiêng liêng và khuyến khích Chính phủ thúc đẩy các tuyên bố về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Tuy nhiên, ngay cả khi bằng chứng cho những tuyên bố như vậy được thu thập, Hà Nội không muốn dùng chúng như những vũ khí, theo các nhà phân tích nói. Trung Quốc, quốc gia láng giềng kế cận và đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, đang ngày càng quyết đoán trong việc xây dựng một chuỗi các tiền đồn quân sự trên biển Đông.

Mọi người ở Việt Nam, “chính phủ và các cơ quan phi chính phủ đều chia sẻ một ý nghĩ chung là Trung Quốc nên tránh xa những hòn đảo đó, theo Liam C. Kelley, Giáo sư về lịch sử tại Đại học Hawaii ở Manoa và là người đã nghiên cứu nguồn gốc của mối quan hệ giữa hai quốc gia Trung Quốc và Việt Nam.

clip_image004

Tiến sĩ Trần Nguyễn Anh Sơn cho hay Chính phủ Việt Nam không sử dụng những tài liệu mà ông tìm ra để kiện Trung Quốc. “Do vậy, nhiều tài liệu của chúng tôi không được công bố”.

Nhưng ông nói rằng việc sống dậy chủ nghĩa dân tộc gần đây do sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông đặt ra một câu hỏi gai góc “Làm thế nào mà bạn có thể bảo vệ Việt Nam khỏi Trung Quốc khi Bắc Kinh chống lưng Hà Nội?”.

Trung Quốc từng cai trị Việt Nam trong một giai đoạn kéo dài một nghìn năm, để lại nhiều di sản văn hóa tích cực nhưng cũng chuốc lấy sự căm giận từ người dân. Bắc Kinh đã giúp Hà Nội đánh bại  Pháp để giành được độc lập năm 1954 nhưng cũng xâm chiếm miền Bắc Việt Nam vào năm 1979, bắt đầu cuộc chiến tranh biên giới ngắn ngủi.

Vào năm 2014, tinh thần chống Trung Quốc bùng nổ khi một công ty dầu mỏ của Trung Quốc kéo một giàn khoan dầu lên vùng biển gần Đà Nẵng, gây ra căng thẳng hàng hải và nhiều cuộc bạo loạn chống Trung Quốc tại một số khu công nghiệp của Việt Nam.

Một chuyên gia cao cấp về luật tại Hà Nội, người không muốn tiết lộ danh tính khi nói về chính trị nhạy cảm, nói rằng sự quan tâm đến chủ quyền lãnh thổ từ lâu đã là “trái tim” của người Việt Nam. Nhưng vụ giàn khoan đã làm tăng thêm sự quan tâm.

Trung Quốc đã kiểm soát Hoàng Sa từ năm 1974 sau một cuộc hải chiến với Việt Nam Cộng hoà. Bắc Kinh gia tăng sự hiện diện ở Trường Sa bằng một chiến dịch xây dựng đảo nhân tạo ở quần đảo này.

Nhiều quan chức và học giả Trung Quốc tìm cách biện minh cho tuyên bố chủ quyền chin đoạn của Bắc Kinh đối với vùng biển bao quanh cả hai quần đảo bằng cách trích dẫn các bản đồ và các bằng chứng khác từ những năm 1940 và 1950.

Nhưng một số ở Việt Nam, như Tiến sĩ Sơn, đang cố gắng thu thập các bằng chứng lịch sử về chủ quyền của quốc gia ở hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, cho dù họ có ít quyền hạn để ngăn cản Trung Quốc.

Tiến sĩ Sơn, 50 tuổi, và các học giả Việt Nam khác nói rằng triều đại nhà Nguyễn, trị vì Việt Nam từ năm 1802 đến năm 1945, đã kiểm soát hành chính đối với Hoàng Sa bằng cách gửi người đi khảo sát quần đảo này và thậm chí trồng cây trên đó như là một cảnh báo đề phòng tàu đắm. Họ nói rằng điều này đã xảy ra vài thập niên trước khi người Trung Quốc tỏ ra quan tâm đến các hòn đảo này.

Người Trung Quốc biết rất rõ rằng họ không bao giờ đề cập đến Hoàng Sa hay Trường Sa trong sách lịch sử hoặc bản đồ lịch sử của họ“, tiến sĩ Sơn nói.

Ngược lại, ông cho biết, ông đã tìm thấy bằng chứng trong hơn 50 cuốn sách bằng tiếng Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha – về việc một nhà thám hiểm Việt Nam thời Nguyễn đã đặt lá cờ hoàng gia ở Hoàng Sa vào những năm 1850.

Các nhà phân tích cho rằng, trọng tài quốc tế về chủ quyền lãnh thổ chỉ có thể tiến hành nếu hai bên đồng ý, và Trung Quốc đã không quan tâm đến vấn đề này.

clip_image006

Ngư dân chuẩn bị đi biển từ Đà Nẵng. Một giàn khoan dầu của Trung Quốc được kéo vào vùng nước gần đó đã gây ra xung đột hàng hải căng thẳng vào năm 2014 và gây ra nhiều cuộc bạo động chống Trung Quốc

Tuy nhiên, việc quan tâm đến lịch sử hàng hải của Việt Nam kể từ năm 2012 đã tạo ra tiếng vang trên các phương tiện truyền thông nhà nước và có nhiều thú vị bất ngờ.

Một là Trần Thắng, một Kỹ sư cơ khí người Việt Nam sống ở Connecticut. Ông nói qua điện thoại rằng ông đã tặng 153 bản đồ và sách atlases mua chúng trên eBay với giá khoảng 30.000 USD.

Trong số các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu về lãnh thổ và lãnh hải ở Biển Đông, TS. Sơn là một trong số những người nổi bật nhất.

Ông sinh năm 1967 tại Huế, khoảng 50 dặm về phía tây bắc của thành phố Đà Nẵng, và cha của ông đã bị giết chết vào năm 1970 trong khi chiến đấu ở phe Việt Nam Cộng hoà. “Tôi chỉ nhớ đám tang”, ông nói.

Ông lớn lên trong nghèo khó, nhưng học xuất sắc trong Trường Đại học Huế, nơi luận án lịch sử của ông đã khám phá đồ sứ thời Nguyễn. Sau đó ông lãnh đạo Viện Bảo tàng Mỹ thuật của Huế và đã nỗ lực trong việc đưa kinh thành Huế trở thành di sản UNESCO.

Tiến sỹ  Sơn cho biết, ông muốn sao chụp bản đồ nêu bật các yêu sách lãnh thổ của Việt Nam ở Biển Đông. Vì vậy, khi các quan chức hàng đầu ở Đà Nẵng yêu cầu ông trong năm 2009 thực hiện một nghiên cứu của Chính phủ, ông đã không bỏ lỡ cơ hội.

Tôi luôn chống lại Trung Quốc”, ông nói bằng cách giải thích. “Các học giả Trung Quốc đã và đang tiến hành nghiên cứu tương tự trong nhiều năm với sự hỗ trợ của Bắc Kinh”. Ông thấy công việc của mình không uổng, ông cho biết.

Các quan chức Đà Nẵng đã cho phép Tiến sĩ Sơn tuyển mộ một nhóm hỗ trợ gồm bảy thành viên, nhưng không tài trợ cho chuyến đi quốc tế của ông. Ông nói ông đã phải dùng tiền túi của mình để thanh toán cho một số nghiên cứu mà ông đã tiến hành từ năm 2013 trên khắp châu Âu và Hoa Kỳ, nơi ông là một học giả Fulbright tại Đại học Yale.

Tiến sĩ Sơn, Phó giám đốc Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế – Xã hội thành phố Đà Nẵng, cho biết ông vẫn hy vọng rằng một ngày [nào đó] Việt Nam sẽ đưa Trung Quốc ra tòa.

Nhưng ông không nói nhiều về kết quả cuối cùng nếu có một vụ kiện như thế.

“Tôi không phải là chính trị gia”, ông nói thêm. “Tôi là một nhà khoa học”.

***

Bản gốc: https://www.nytimes.com/2017/11/25/world/asia/vietnam-south-china-sea.html

VNTB gửi BVN

Có thể bạn sẽ thích
2 Comments
  1. Lý Giang Anh says

    Trần Đức Anh Sơn bị kỷ luật là đúng rồi. Anh không hiểu gì cả. Việc của nhà nước nghĩ đến 10 mà anh chỉ nghĩ đến 1. Anh Sơn nên học thêm binh pháp đi, rồi anh sẽ hiểu…

  2. Lý Giang Anh says

    Tôi muốn góp ý thêm điều này, nếu có sai thì đừng ném gạch.
    Ngày xưa, Việt Nam đã có chủ quyền quần đảo HS TS từ lâu lắm rồi.
    Đến năm 1958 thì TQ mới đề nghị với VN nếu VN thống nhất thì giao quần đảo đó cho họ. Bù lại, họ sẽ chu cấp lương thực, quân nhu và đạn được để hỗ trợ cho miền bắc đối kháng với miền nam thời bấy giờ. Ông PVĐ lúc đó chỉ nghĩ đơn giản là quần đảo đó chẳng có gì to tát nên đồng ý ngay lập tức.
    Sau này thống nhất đất nước nhưng VN không chịu giao 2 quần đảo đó cho TQ dẫn đến thảm cảnh chiến tranh xảy ra.
    Đơn giản là vì quần đảo đó trước kia thuộc VNCH, nên việc ông PVĐ bán đảo giống như bán vịt trời. TQ họ mua thì họ ráng chịu.
    VN sau này thống nhất thì HS-TS là của VN, không cần chứng minh nhiều.

Bình Luận

Your email address will not be published.