Báo hay cho người bận rộn

Vì sao ông Trump công nhận Jerusalem là thủ đô Israel?

0

Tại sao ông Trump công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel?

Tổng thống Mỹ, Donald Trump, ngày 6/12 vừa qua đã chính thức công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel và yêu cầu đại sứ quán Mỹ ở Israel bắt đầu chuẩn bị di chuyển tòa đại sứ từ Tel Aviv đến Jerusalem. Những ngày gần đây, Palestine và các nước Ả-Rập đã liên tục kháng nghị và đe dọa rằng việc này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến trình hòa bình ở Trung Đông. Đức, Pháp và Liên Hợp Quốc cũng thuyết phục tổng thống Trump không nên làm như vậy. Tuy nhiên, ông Trump không hề có vẻ sẽ thay đổi quyết định của mình. Vì sao tổng thống Trump nhất định phải thừa nhận Jerusalem là thủ đô của Israel?

Ảnh: Bức tường phía Tây và Mái Vòm Đá nhìn từ xa (wikipedia)

Ngoài các nhân tố mang tính chính trị và tôn giáo, việc công nhận Jerusalem có nhiều nhân tố về lịch sử của vùng đất thánh này. Mọi người đều biết rằng Jerusalem là thánh địa của đạo Do Thái, Cơ Đốc và Hồi Giáo. Nằm dưới Mái Vòm Đá của Hồi giáo chính là di chỉ của đền thờ thiêng liêng nhất của đạo Do Thái.

Palestine yêu cầu đòi vùng phía Đông của Jerusalem làm thủ đô nhà nước tương lai của mình, trong khi nước Do Thái Israel cũng nhất định không chịu nhượng bộ, yêu cầu lấy toàn bộ Jerusalem làm thủ đô của mình với lý do Jerusalem đã là thủ đô của Do Thái trong suốt hơn 3000 năm qua.

Vậy ai có quyền sở hữu Jerusalem?

Vương quốc Israel và kinh đô Jerusalem

Theo ghi chép trong lịch sử, vào khoảng năm 1.000 trước công nguyên, vua David đã đưa những người dân Israel đến nơi bây giờ là Jerusalem để đặt kinh thành và thiết lập nên quốc gia Israel. 40 năm sau đó, Solomon, con trai của vua David đã xây dựng một đền thờ ở thành phố Jerusalem để thờ Hòm Giao Ước mà nhà tiên tri Moses đã mang đến cho người dân Israel. Đền thờ này hay được gọi tên là “Đền thờ của Solomon” hay “Đền thờ Thứ Nhất”, là nơi linh thiêng nhất và là trung tâm hành hương của Israel vào thời đó.

Vào khoảng năm 600 trước công nguyên, Babylon đã tiêu diệt Israel và phá hủy Đền thờ Thứ Nhất. Khoảng 70 năm sau thì Babylon bị tiêu diệt bởi Đế quốc Ba tư và người dân Israel được phép trở về Jerusalem. Họ xây lại một đền thờ trên nền của Đền thờ Thứ Nhất, được mọi người biết đến là Đền thờ Thứ Hai.

Những người Do Thái mất nước sau đó bị cai trị lần lượt bởi đế quốc Ba Tư, Hy Lạp và La Mã. Quê hương của họ, từng là quốc gia Israel, thì trở thành “tỉnh Do Thái” trong các đế quốc này và Jerusalem là thủ phủ của tỉnh Do Thái.

Sau đó thì Jesus ra đời và bắt đầu truyền đạo của mình. Trong những năm cuối đời, Jesus đã ở Jerusalem, nơi mà ông đã bị xử tử hình bởi nhà cầm quyền La Mã dưới cáo buộc của các tu sĩ Do Thái.

Nguồn gốc nhà nước Palestine

40 năm sau khi Jesus gặp nạn, người La Mã đã phá hủy thành phố Jerusalem và đốt cháy Đền thờ Thứ Hai, chỉ để lại một phần của bức tường ở phía Tây, nay được gọi là “Bức tường Than Khóc”. Người La Mã cũng bán những người Do Thái bị bắt sang Ai Cập làm nô lệ.

Sau đó, người La Mã xây một đền thờ La Mã trên nền của đền thờ Do Thái và đổi tên “tỉnh Do Thái” thành Palestine. Trong 400 năm sau đó, những người Do Thái bị cấm vào Jerusalem.

Đến thế kỷ thứ 6, Đế quốc Hồi Giáo Ả-Rập chiếm Palestine. Họ xây hai đền thờ Hồi Giáo ở Jerusalem, một trong hai đền thờ được xây trên nền của nơi từng là đền thờ Do Thái của vua Solomon. Cả hai đền thờ Hồi Giáo tại Jerusalem đều còn tồn tại đến ngày nay.

Người Israel phục quốc và chờ đợi Chúa Cứu Thế Messiah

Theo như Kinh Thánh, bởi vì bức hại Jesus, người Do Thái sẽ phải chịu giày vò nhiều thế kỷ để đền tội. Họ bị xua đuổi ở khắp mọi nơi, phải chạy trốn và đi lang bạt suốt gần 2000 năm sau đó. Tuy nhiên, bởi vì họ cũng hối cải, Thượng Đế sẽ cho họ một cơ hội để phục quốc.

Kinh Thánh tiên đoán rằng, sau khi Israel phục quốc cũng là lúc Thượng Đế sẽ bắt đầu tiến hành đại thẩm phán toàn nhân loại và đó cũng là lúc mà Chúa Cứu Thế Messiah sẽ giáng trần. Người Israel tin rằng dưới sự dẫn dắt của Messiah, nhân loại sẽ từ xấu thành tốt, chuyển thù thành bạn và thế giới sẽ vĩnh hằng trong hòa bình. Người Do Thái có sứ mệnh phải quay lại Jerusalem, xây lại đền thờ và chờ đợi Messiah. Có những lời dự ngôn và miêu tả chi tiết về Đền thờ Thứ Ba ở Jerusalem trong các kinh sách của Do Thái.

Sau chiến tranh thế giới thứ Hai, dưới sự giúp đỡ của Liên Hợp Quốc, người Do Thái đã tuyên bố thành lập quốc gia Israel vào ngày 14/5/1948 trên mảnh đất quê hương của mình. Những quốc gia Ả Rập Hồi giáo xung quanh ngay lập tức phản ứng bằng việc khai chiến tiêu diệt nhà nước Do Thái non trẻ.

Sau cuộc chiến 6 ngày vào năm 1967, Israel đã đánh bại Ai Cập, Jordan, Syria, cũng như sự hỗ trợ của quân đội Iraq, Ả Rập Saudi, Kuwait và Algeria, và giữ được toàn bộ Jerusalem. Năm 1980, quốc hội Israel đã thiết lập một điều trong hiến pháp cho biết rằng Jerusalem là “thủ đô không thể chia cắt và tách rời” của Israel.

Tuy nhiên, vào năm 1988, người Ả-Rập cũng tuyên bố ý định thành lập nhà nước Palestine và đặt Jerusalem là thủ đô tương lai của mình. Cuộc chiến đòi quyền sở hữu Jerusalem giữa hai nhà nước này là một rào cản lớn và là một vấn đề vô cùng khó khăn trong tiến trình hòa bình ở Trung Đông.

Nước Mỹ ủng hộ sự hiện diện của Israel

Những người dân Mỹ và người dân Châu Âu tin tưởng vào Kinh Thánh tin rằng việc Mỹ ủng hộ Israel là vô cùng quan trọng cho tương lai của Israel và toàn nhân loại.

Trên thực tế, tổng thống Trump không phải là tổng thống Mỹ đầu tiên thừa nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. Năm 1995, Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật Lãnh sự quán Jerusalem và yêu cầu Đại sứ quán Mỹ ở Israel chuyển từ Tel Aviv đến Jerusalem. Tuy nhiên, các tổng thống Mỹ sau đó đã lo sợ sự leo thang xung đột giữa Palestine và Israel nên đã không thực hiện. Tuy nhiên, trên thực tế, việc không rõ ràng quyền chiếm giữ Jerusalem lại trở thành khóa chặn tiến trình hòa bình ở Trung Đông.

Tổng thống Trump thừa nhận Jerusalem là thủ đô của Israel cũng dựa trên việc Jerusalem đã là thủ đô của Israel trong suốt 70 năm qua. Tổng thống Trump tin rằng việc thừa nhận thực tế này sẽ là một bước quan trọng đối với “hòa bình giữa Israel và Palestine”.

Những người ủng hộ quyết định của tổng thống Trump giữ quan điểm rằng việc ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ đối với Israel sẽ có tác dụng xây dựng tích cực cho hòa bình ở Trung Đông và cho rằng việc Mỹ đã thỏa hiệp suốt nhiều thập kỷ vừa qua chỉ càng dẫn đến thất bại trong việc giảng hòa mối quan hệ giữa Israel và Palestine.

John Hagee, một mục sư Thiên Chúa giáo dòng Phúc Âm ở Mỹ, cho biết rằng tổng thống Trump sẽ trở thành một tượng đài trong lịch sử và việc ông Trump có thể ủng hộ sự dũng cảm của người Israel sẽ được ghi nhớ trong nhiều thế hệ sau.

Trí Thức VN

_________________

Đọc thêm:

Phép lạ trong cuộc Chiến tranh Sáu ngày vệ quốc của Israel

Ngày 6/12/2017, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố công nhận Jerusalem là thủ đô của Nhà nước Do Thái Israel, đánh dấu một chuyển biến quan trọng và nhiều tranh cãi trong vấn đề hòa bình ở Trung Đông. Jerusalem, thánh địa linh thiêng của ba trong số những tôn giáo lớn nhất thế giới – Do Thái, Cơ Đốc và Hồi giáo – chưa bao giờ ngừng được hướng về để ước vọng, cầu nguyện, ngưỡng mộ và cảm thương cho số phận của của những con người, dân tộc và đất nước đã gắn chặt với nó.

Quốc kỳ Israel nhìn về phía Thành cổ Jerusalem, nơi có mái vòm màu vàng của nhà thờ Dome of the Rock (Ảnh: David Silverman/Getty Images)

Cách đây 50 năm, vào tháng 5 năm 1967, chỉ 20 năm sau khi Nhà nước Do Thái Israel được thành lập, Ai Cập bất ngờ  trục xuất quân đội gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc, huy động lực lượng quân đội khổng lồ tới biên giới Israel, phong tỏa eo biển Tiran (cửa ngõ hàng hải chiến lược của Israel), đồng thời kêu gọi tất cả các nước Ả Rập trong khu vực cùng nhau tiêu diệt nhà nước Do Thái non trẻ.

Israel đứng trước tình huống tứ bề thọ địch và thua kém mọi mặt về quân sự trong khi Liên Hiệp Quốc và đồng minh Mỹ đã nhắm mắt làm ngơ. Một cuộc thảm sát Holocaust mới dường như sắp diễn ra. Tuy nhiên, Israel đã sống sót và phồn thịnh tới ngày nay, để kể lại câu chuyện mà họ tin là phép lạ đã giúp họ chiến thắng trong cuộc chiến lịch sử 50 năm trước.

Vào ngày 4/6/1967, nhà nước Israel non trẻ nhìn thấy mình đang đứng trên bờ vực hủy diệt. Trong khi người dân Israel vẫn chưa nguôi ngoai nỗi đau về cuộc thảm sát Holocaust trong Thế chiến II, thì tất cả các quốc gia Ả Rập xung quanh đã thề sẽ khiến Địa Trung Hải nhuộm đỏ máu của người Do Thái.

Tướng nghỉ hưu Eitan Ben – Eliyahu, thuộc lực lượng phòng vệ Israel nhớ lại: “Chúng tôi đã nghĩ rằng người Israel sẽ bị vứt hết xuống biển.” Buổi sáng ngày 5/6/1967, ông Ben Elyahu là một trong những phi công đầu tiên tiến đánh Ai Cập, trận chiến đầu tiên mở màn chiến thắng vẻ vang và đầy bất ngờ của quân Do Thái.

“Đây là chuyện sống chết. Đây là chuyện Israel có bị hủy diệt hay không.”

“Người dân hoảng sợ. Người ta nói về việc Israel sẽ bị tiêu diệt ngay lập tức, về cuộc chiến mà sẽ có số người chết khổng lồ, ít nhất là 10.000 người,” ông Elyahu nói.

Những giáo sĩ Do Thái dự đoán số người chết nhiều đến mức họ dự định sử dụng tất cả công viên tại Jerusalem làm nghĩa trang công cộng. Ngay trước khi cuộc chiến bắt đầu, câu đùa cửa miệng của người Israel với nhau là: “Người chết cuối cùng phải tắt điện!”

Lính nhảy dù tại Bức tường Phía Tây sau năm 1967 (Ảnh: David Rubinger qua Jewish Journal)

Nhưng câu đùa này cũng không phản ánh được sự kinh hoàng trước viễn cảnh chết chóc của người dân quốc gia mới thành lập được 2 thập kỷ này. Israel thua kém cả về hỏa lực lẫn quân lực ở cả 3 mặt trận: Ai Cập ở miền Nam, Jordan ở phía Đông và Syria ở phía Bắc. Liên Xô đã đổ số lượng vũ khí trị giá 2 tỷ USD vào các nước Ả Rập. Kẻ thù của Israel mang tới chiến trường số binh lính gấp đôi, số xe tăng nhiều gấp ba và gấp 4 lần số máy bay mà Israel sở hữu.

Nhưng ngay trước thời khắc cuộc chiến bắt đầu, Ai Cập – kẻ thù mạnh nhất của Israel bất ngờ xảy ra một loạt sai sót và tai nạn kỹ thuật.

Nhà báo chiến trường Israel Eud Yaai nhớ lại: “Có vấn đề liên lạc giữa Tổng thống Ai Cập Nasser và các tướng lĩnh hàng đầu quân đội của ông ta, và tất cả mọi việc đều không hoạt động theo như kế hoạch. Khi chiến tranh xảy ra, bạn có thể nhìn và nghe thấy, chúng tôi đã nghe thấy họ. Bạn có thể nghe và nhìn thấy Bộ Chỉ huy tối cao của Ai Cập không kiểm soát được tình hình.

Bộ Chỉ huy Ai Cập cũng đã bỏ ngoài tai cảnh báo của các nhân viên tình báo cấp trung rằng không lực Israel sắp tấn công phủ đầu. Đêm trước ngày phát động chiến tranh, Tư lệnh quân Ai Cập Abbot Emir đã tụ họp tướng lĩnh dưới trướng của mình để tiệc tùng tại một căn cứ không quân cách xa chiến trường. Sáng hôm sau, cuộc tấn công chớp nhoáng của không lực Israel đã khiến Abbot Emir hối hận cả đời với quyết định của mình.

Chúng tôi khiến họ hoàn toàn bất ngờ. Sau đó một số lính Ai Cập muốn chạy vào máy bay để phản kháng, nhưng không làm gì được”, cựu phi công của Israel Elyahu nói.

Một lỗi chiến thuật ngớ ngẩn khác của Ai Cập mà không ai giải thích được là vào 2 tuần trước cuộc chiến, Ai Cập đã thay thế gần như hoàn toàn chỉ huy quân sự tại Sinai bởi những người không quen thuộc địa hình. Sáng ngày 5/6/1967, radar của Jordan phát hiện ra máy bay của Israel cất cánh. Jordan đã gửi cảnh báo đỏ cho Cairo, nhưng người lính trực đã dùng sai mã ngày nên không thể giải mã được thông tin sống còn đó. Lời cảnh báo không bao giờ được đọc. Trước một đội quân đang sửng sốt, không lực Israel đã “làm cỏ” hết lực lượng không quân Ai Cập dưới mặt đất, đánh dấu chiến thắng đầu tiên và cũng là quan trọng nhất đối với cả cuộc chiến.

Một số người Israel trong đó có tác giả Sara Rigler, người đã viết về Cuộc chiến Sáu ngày tin rằng một loạt các sai lầm và sự kiện không may của Ai Cập là do có bàn tay của một đấng tối cao:

“Bạn có thể nói rằng, ồ thật là sự trùng hợp may mắn, nơi bạn có thể thấy bàn tay của Chúa. Chúng tôi thấy rằng Chúa đã an bài tất cả những chuyện đó để xảy ra theo đúng cách nó đã xảy ra, bởi Ngài muốn cuộc tấn công của Israel thành công. Chúa muốn chúng tôi chiến thắng, muốn chúng tôi lấy lại thánh địa của mình.

Đối với nhiều người, sự nhiễu loạn trong quân đội Ai Cập ngay trước cuộc chiến khiến họ nghĩ tới sự tương đồng trong câu chuyện trong Kinh Thánh về chàng Gideon phá rối đội quân kẻ thù của vương quốc Israel cổ đại.

Thay vì bị tiêu diệt, Israel đã giành được một trong những chiến thắng vang dội nhất lịch sử chiến tranh thế giới. Rất nhiều người Do Thái chính thống và Cơ đốc giáo tin rằng quốc gia Do Thái đã chứng kiến một phép lạ.

Joel Rosenberg, nhà phân tích Trung Đông nhận xét: “Kể cả những người Tin Lành cũng tin rằng Cuộc chiến Sáu ngày là bằng chứng của sự can thiệp của Chúa đối với những người Do Thái. Điều kỳ diệu là bạn được chứng kiến thời khắc đó, khi mà tất cả các lãnh đạo Ả Rập, lãnh đạo Hồi giáo đều nói rằng ‘chúng ta sẽ ném bọn Do Thái xuống biển’, và thấy rằng một cuộc thảm sát Holocaust khác sắp diễn ra. Thế mà 6 ngày sau, Israel tự vệ thành công, tiêu diệt kẻ thù, chiếm được diện tích đất gấp 3 lần trước đây, tái kiểm soát Jerusalem lần đầu tiên trong 100 năm. Và đến ngày thứ 7 họ nghỉ ngơi. Nó nghe thật giống Kinh Thánh đối với những người Tin Lành khắp thế giới và họ cũng hân hoan vui mừng cho người Do Thái.

Tác giả Rigler nói: “Ngay sau khi kết thúc chiến tranh, tất cả mọi người, kể cả tín hữu lẫn người thế tục đều nhận thấy điều này đến từ Chúa bởi vì nó thật là không hợp lý. Tất cả mọi người đều dự đoán một thất bại thê thảm. Đây là một phép lạ, thậm chí cả với Mose Dayan, tư lệnh quân đội Israel, đồng thời là một người rất thế tục.

Sau khi Jerusaslem được giải phóng, ông Dayan đã tới Bức tường Phía Tây và theo truyền thống, đặt một mẩu giấy ghi thông điệp gửi Chúa vào các khe của bức tường. Tờ giấy này ngay sau đó đã được các phóng viên chiến trường tiết lộ, đó là câu số 23, thuộc chương 118 trong Thánh Vịnh:

“Đây là việc làm của Chúa. Nó thật diệu kỳ trong mắt chúng tôi.”

Trí Thức VN

Có thể bạn sẽ thích

Bình Luận

Your email address will not be published.